Địa chỉ: Da Loc Commune, Hau Loc District, Thanh Hoa Province Thời gian bắt đầu: 14/09/2018 Tác giả: admin

Bài viết do ông Nguyễn Viết Nghị- Nguyên là Quản lý Dự án của Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam, nay ông là Giám đốc CORENACCA

Đa Lộc (một cộng đồng ven biển nằm ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam) bị phơi nhiễm với thiên tai thường xuyên, tỷ lệ đói nghèo cao, tình trạng khan hiếm đất đai, sự phụ thuộc nông nghiệp và dân số thấp. Năm 1982, chính phủ đã xây dựng một đê biển dài 5 km dọc theo bờ biển để bảo vệ Đa Lộc khỏi các trận bão và ngập lụt ven biển. Mặc dù chi phí đáng kể của nó, đê biển đã bị suy thoái nghiêm trọng trong những năm qua. Vào tháng 9 năm 2005, cơn bão Damrey quét qua Đông Nam Á phá hủy phần lớn đê biển và cho phép nước biển quét qua vài kilômét nội địa. Thiệt hại kinh tế tổng cộng hơn 4,5 triệu USD. Sau khi cơn bão Damrey trôi qua, người dân Đa Lộc nhận thấy rằng một phần 500 mét được che chở bởi rừng ngập mặn là phần duy nhất của đê còn lại.

Rừng ngập mặn là một loài cây bản địa mọc ở các vùng ven biển của Việt Nam, cũng như các khu vực khác. Chúng cung cấp một loạt các dịch vụ hệ sinh thái quan trọng quan trọng đối với sinh kế: rừng ngập mặn có thể giúp bảo vệ bờ biển khỏi bão và dâng thủy triều; rễ của chúng ổn định đất và do đó làm giảm xói lở bờ biển; rừng ngập mặn cũng là môi trường sống cho cá, tôm, cua, nhuyễn thể và hàu. Mặc dù rừng ngập mặn có nhiều dịch vụ hệ sinh thái, hàng trăm hecta đã được dọn sạch để nuôi trồng thủy sản ven biển, cỏ biển để làm thủ công mỹ nghệ và khai thác  củi đun.

Sau cơn bão Damrey, NGO CARE đã khởi xướng một dự án dựa vào cộng đồng để trồng rừng ngập mặn và đa dạng hóa sinh kế nhằm giảm áp lực lên các hệ sinh thái rừng ngập mặn. CARE xác định rằng trồng rừng ngập mặn sẽ có giá 1.000 USD / ha trồng, nhưng mỗi đô la chi tiêu có khả năng ngăn cản US $ 186 thiệt hại do bão.

Dự án đã thu hút cộng đồng tham gia bằng cách tạo ra thanh niên được bầu dân chủ “Nhóm Xanh” và Ban quản lý rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng (CMMB). Nhóm nghiên cứu đã thực hiện các hoạt động môi trường cộng đồng trong khi CMMB tổ chức vườn ươm rừng ngập mặn, trồng và duy trì cây, và thực hiện một loạt các hoạt động sinh kế thay thế như sản xuất mật ong và cá thu hoạch bền vững, cua và nhuyễn thể. Vì rừng ngập mặn ở Việt Nam là tài nguyên của nhà nước, người dân phải có được các quyền hợp pháp từ chính phủ để quản lý tài nguyên. Vào tháng 10 năm 2009, Ủy ban nhân dân huyện Hậu Lộc đã phê duyệt các quy định cấp thôn bản và trao quyền quản lý cho ba làng trong 5 năm, dựa trên các quy tắc và quy định do chính người dân tự xây dựng.

Việc trồng rừng ngập mặn như một phần của sáng kiến ​​CARE đã thành công lớn, với tỷ lệ sống sót dao động từ 70% -90%. Khu vực này bao gồm hơn 600 mẫu Anh (250 ha), trải dài 3 km dọc theo bờ biển và đạt 700 m ra biển. Ngoài việc tăng cường bảo vệ bão, dự án đã giúp tăng cường sự tham gia của cộng đồng, đặc biệt là phụ nữ và đa dạng hóa sinh kế. Các khóa tập huấn tăng cường sự hiểu biết của người tham gia về vai trò của quản lý rừng ngập mặn trong giảm thiểu rủi ro thiên tai (DRR), quyền và trách nhiệm của họ trong dự án và các khái niệm về giới. Với 89% người tham gia dự án nói chung là nữ, phụ nữ đã thể hiện mức độ tin cậy cao hơn cùng với sự hiểu biết ngày càng tăng về kỹ thuật quản lý rừng ngập mặn. Dự án đã tăng cường sản xuất mật ong và tăng sản lượng thủy sản rất nhiều; năng suất nhuyễn thể lớn gấp năm đến 10 lần so với trước đây và thu nhập của hộ gia đình đã được cải thiện.

Một số thành phần chính là công cụ cho sự thành công của dự án. Người dân đã học được từ những sai lầm của các dự án trước đó, áp dụng kỹ thuật trồng và bảo trì rừng ngập mặn được cải tiến kỹ thuật để cải thiện những thất bại trong quá khứ. Tương tự như vậy, sự tham gia của cộng đồng và lãnh đạo địa phương mạnh mẽ đã đóng một vai trò quan trọng. CMMB là một hội đồng được bầu chọn dân chủ bao gồm các bên liên quan đa dạng địa phương, đã phát triển và truyền đạt rõ ràng kế hoạch quản lý được xác định rõ ràng của nó. Dự án sẽ không thể thực hiện nếu không có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương trong việc cấp cho cộng đồng quyền quản lý và tiếp cận các lợi ích từ rừng ngập mặn của nhà nước. Cuối cùng, điều quan trọng cần lưu ý là vai trò quan trọng của NGO CARE trong việc tổ chức và tài trợ cho dự án và cung cấp hỗ trợ quan trọng trong việc xây dựng năng lực và giáo dục.

Cộng đồng có kế hoạch bổ sung thêm 500 ha (200 ha) rừng ngập mặn vào năm 2020, cho thấy sự thành công và hỗ trợ cộng đồng của dự án. Trường hợp này minh chứng rằng việc phục hồi rừng ngập mặn ở Đà Lộc, Việt Nam đang mang lại nhiều lợi ích, từ việc bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên ven biển góp phần giảm thiểu rủi ro để cải thiện quyền năng cộng đồng và khả năng sinh kế.

Chi tiết liên lạc

Nguyễn Viết Nghị
Quản lý dự án