Chương trình chuyển đổi trồng rừng gỗ nhỏ, chu kỳ ngắn sang trồng rừng gỗ lớn, chu kỳ dài tại Thanh Hóa 27/11/2018 admin Thực hiện Đề án giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ gắn với Chương trình chuyển đổi trồng rừng gỗ nhỏ, chu kỳ ngắn sang trồng rừng gỗ lớn, chu kỳ dài tại tỉnh Thanh Hóa Đề án giảm phát thải Bắc Trung Bộ (sau đây gọi chung là Đề án) là đề án đầu tiên về chi trả dựa vào kết quả giảm phát thải khí nhà kính ở Việt Nam, Đề án thực hiện từ năm 2019 đến năm 2025 tại 6 tỉnh Bắc Trung Bộ là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Diện tích đăng ký tham gia Đề án của toàn vùng là1.088.208ha, tổng kết quả giảm phát thải (bao gồm giảm phát thải và hấp thụ các bon) là 19,5 triệu tấn khí các bon níc tương đương (ký hiệu là tCO2), trong đó có 10,3 triệu tCO2 của Đề án sẽ được Quỹ các bon mua 5USD/tCO2 nếu Đề án đạt được100% kết quả giảm phát thải như mục tiêu. Thanh Hoá đã đăng ký Bộ Nông nghiệp & PTNT tham gia Chương trình giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (Công văn 9070/UBND-NN ngày 07/12/2012 của UBND tỉnh) thực hiện trên phạm vi 138 xã tại 16 huyện trên địa bàn tỉnh gồm Mường Lát Quan Hóa, Quan Sơn, Lang Chánh, Bá Thước,Thường Xuân,Như Xuân, Như Thanh, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Hoằng Hoá, Hậu Lộc, Tĩnh Gia, Thạch Thành, Hà Trung, Quảng Xương, tổng diện tích tham gia Đề án là 238.179ha, trong đó, đăng ký các hoạt động can thiệp chuyển đổi rừng trồng chu kỳ ngắn sang chu kỳ dài cung cấp gỗ lớn là 5.000ha và trồng rừng sản xuất gỗ lớn là 5.000ha, đây là những hoạt động can thiệp khá quan trọng góp phần hoàn thành mục tiêu của Đề án nói riêng và chiến lược nâng cao năng suất rừng trồng của tỉnh Thanh Hóa nói chung. Thanh Hóa có tổng diện tích tự nhiên 1.111.465 ha, diện tích rừng và đất lâm nghiệp 647.055,98 ha; trong đó diện tích có rừng 598.573,51 ha (rừng tự nhiên 384.082,81 ha; rừng trồng 214.490,7 ha). Tuy nhiên, hiện nay có hơn 100 ngàn ha rừng gỗ trồng thuộc quy hoạch rừng sản xuất, phần lớn trong số đó là của các hộ gia đình, nhưng chủ yếu là rừng gỗ nhỏ với chu kỳ từ 5 – 7 năm để làm nguyên liệu giấy và dăm gỗ, năng suất và chất lượng rừng trồng thấp, trung bình chỉ đạt 10-12 m3/ha/năm, lợi nhuận bình quân/năm đạt rất thấp từ 7-9 triệu đồng/ha/năm. Thực trạng đó không những ảnh hưởng tới giá trị sản phẩm gỗ, ảnh hưởng tới thu nhập của người dân và vấn đề môi trường, mà cũng sẽ là thách thức để Thanh Hóa hoàn thành 100% mục tiêu đăng ký tham gia Đề án. Theo đánh giá của các nhà chuyên môn, một số thách thức và rào cản chính ảnh hưởng đến chuyển đổi trồng rừng gỗ lớn, chu kỳ dài, đó là: i) Về phương thức sản xuất: Mối liên kết giữa người trồng rừng với doanh nghiệp chế biến và thị trường chưa chặt chẽ (doanh nghiệp chưa hỗ trợ hiệu quả về vốn, kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm cho người dân; cam kết giữa doanh nghiệp và người dân lỏng lẻo, hiệu quả thực thi chưa cao); ii) Về giống và kỹ thuật: Chu kỳ kinh doanh rừng gỗ lớn dài, vốn đầu tư lớn chỉ những hộ đủ vốn và diện tích lớn mới có điều kiện thực hiện, một phần tâm lý người dân vẫn quen dùng cây giống gieo ươm từ hạt với giá thành rẻ hơn. Các hộ gia đình chủ yếu là ở vùng miền núi, đời sống khó khăn, thiếu vốn sản xuất nên trồng rừng chu kỳ ngắn để nhanh cho sản phẩm, thu nhập; iii) Về vốn và tín dụng: Do kinh doanh gỗ lớn có chu kỳ dài hơn kinh doanh nguyên liệu gỗ nhỏ (bột giấy, băm dăm,…), chi phí đầu tư lớn hơn, trong khi việc vay vốn sản xuất của các các tổ chức, hộ gia đình rất khó khăn, trồng rừng có chu kỳ kinh doanh dài và rủi ro cao nên các Ngân hàng thường không muốn cho vay trồng rừng; iv) Về thị trường: Tuy trồng rừng gỗ lớn cho giá trị kinh tế cao hơn, song do nhu cầu thị trường nguyên liệu giấy, băm dăm tăng mạnh nên chủ rừng mới chỉ xác định kinh doanh rừng cung cấp nguyên liệu gỗ nhỏ;… Bên cạnh những thách thức, Thanh Hóa cũng có nhiều tiềm năng thuận lợi để chuyển đổi mô hình trồng rừng như: i) Về đất đai, tài nguyên rừng: Toàn tỉnh có trên 100 ngàn ha rừng gỗ trồng và trên 30 ngàn ha đất trống thuộc rừng sản xuất, chiếm 22% đất lâm nghiệp, đây là tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế rừng nói chung, phát triển gỗ lớn nói riêng; ii) Về lao động: Dân số trong độ tuổi lao động có khoảng trên 2,16 triệu người, chiếm tỷ lệ 58,8% dân số toàn tỉnh; iii) Về nhu cầu gỗ lớn: Theo dự báo của Hiệp hội gỗ, lâm sản Việt Nam, nhu cầu cung cấp gỗ lớn đến năm 2020, mỗi năm, cả nước cần từ 4 – 5 triệu m3 gỗ,…do vậy thị trường tiêu thụ gỗ lớn thời gian tới là rất lớn. Mặt khác, xu hướng tiêu dùng của thị trường thế giới đã chuyển dần từ tiêu thụ các sản phẩm gỗ rừng tự nhiên sang sử dụng các sản phẩm gỗ rừng trồng có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Trước thực trạng trên, Thanh Hóa đã ban hành và thực thi nhiều chính sách, chương trình, dự án nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng theo hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng và sản phẩm gỗ chế biến, tạo vùng nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Trong đó, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 20/4/2015 về tái cơ cấu ngành nông nghiệp đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững; Đối với lĩnh vực Lâm nghiệp tập trung vào một số nội dung sau: Giảm dần diện tích rừng trồng có sinh khối thấp, tăng diện tích rừng gỗ lớn, chuyển đổi cơ cấu sản phẩm từ khai thác gỗ non làm dăm gỗ sang khai thác gỗ lớn,…nhân nhanh và sản xuất giống cây trồng lâm nghiệp mới với quy mô công nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh, tạo sinh khối lớn bằng công nghệ mô, hom,… Mục tiêu đến năm 2020 hình thành và phát triển ổn định 56 ngàn ha vùng kinh doanh gỗ lớn với các loài cây trồng chủ yếu là Keo tai tượng Úc, Lát hoa, Sao đen,…Với chu kỳ kinh doanh 10-12 năm, năng suất bình quân đạt từ 18 – 20 m3/ha, sản lượng bình quân 200- 250 m3/ha, doanh thu bình quân đạt 300 – 350 triệu đồng/ha, lợi nhuận bình quân đạt từ 18 – 25 triệu đồng/ha/năm. Như vậy, trên cùng một diện tích rừng thì việc kinh doanh gỗ lớn với chu kỳ kinh doanh chỉ kéo dài thêm khoảng từ 5-7 năm so với gỗ nhỏ nhưng mang lại giá trị rừng cao hơn gấp 2,5 – 3 lần. Một số giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng sẽ được thực thi quyết liệt như: i) Giải pháp về giống và khoa học kỹ thuật: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu tuyển tập các loài cây trồng Lâm nghiệp thích hợp cho mỗi vùng sinh thái khác nhau, có khả năng tăng trưởng nhanh, tạo sinh khối lớn, có năng suất chất lượng cao; ii) Giải pháp về quan hệ sản xuất: Xây dựng, nhân rộng các mô hình kinh tế HTX sản xuất lâm nghiệp, thúc đẩy tạo điều kiện về thể chế để nông dân, hộ gia đình đóng góp cùng doanh nghiệp tổ chức sản xuất lâm nghiệp theo chuỗi giá trị sản phẩm; iii) Giải pháp về tuyên truyền: Tập trung tuyên truyền, vận động người dân, doanh nghiệp thay đổi nhận thức về sử dụng gỗ hợp pháp, về tập quán sử dụng gỗ từ rừng tự nhiên sang rừng trồng; iv) Giải pháp về vốn, thị trường: Tập trung thu hút các nhà đầu tư có tiềm lực về tài chính, khoa học công nghệ và quản trị doanh nghiệp trồng rừng gỗ lớn, thúc đẩy việc cấp chứng chỉ rừng rừng bền vững (FSC), phối hợp với Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh, Ngân hàng NN&PTNT đôn đốc, triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng vay vốn trồng rừng theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 của Chính phủ về cơ chế chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020; v) Giải pháp về cơ chế, chính sách: Xây dựng và ban hành chính sách khuyến khích phát triển rừng trồng kinh doanh gỗ lớn trên địa bàn tỉnh, trong đó tập trung một số nội dung chính như: Hỗ trợ kinh phí chuyển hóa rừng trồng kinh doanh nguyên liệu gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn, hỗ trợ kinh phí cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đối với rừng trồng gỗ lớn, để nâng cao giá trị gia tăng và tiếp cận được với thị trường thế giới,… Thực thi thành công chuyển đổi trồng rừng gỗ nhỏ, chu kỳ ngắn sang trồng rừng gỗ lớn, chu kỳ dài sẽ góp phần hoàn thành mục tiêu Thanh Hóa đăng ký tham gia Đề án nói riêng và mục tiêu chung nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng tỉnh Thanh Hóa nói riêng, tuy nhiên, rất cần sự tăng cường phối hợp giữa các ngành, chính quyền địa phương các cấp trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện.