Địa chỉ: Pù Hoạt, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, Việt Nam Tác giả: admin

Khu BTTN Pù Hoạt (PHNR) che phủ một diện tích 85.769,5ha ở khu vực phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An. Đây là khu vực được xác định có tầm quan trọng cho bảo tồn đa dạng sinh học từ những năm đầu thế kỷ XX và các nghiên cứu đánh giá ban đầu của Viện điều tra quy hoạch rừng 1999-2000 (FIPI) đề xuất thành một khu bảo tồn thiên nhiên. Kết quả nghiên cứu của FIPI cũng bao gồm các nghiên cứu đề xuất ban đầu và kế hoạch đầu tư thành lập khu BTTN dưới sự quản lý của tỉnh Nghệ An 2014). Khu vực này được xem nằm ngoài dãy Trường Sơn, bị chia cắt bởi lưu vực các ngọn núi thuộc sông Cả và sông Chu. Hệ động thực vật ở đây còn chưa được nghiên cứu nhiều. Mặc dù đây không phải là một cuộc điều tra đa dạng sinh học đầy đủ, nhưng các loài tiêu biểu và sự đánh giá của cộng đồng sẽ cung cấp thông tin sơ bộ về các động thực vật của khu bảo tồn và giúp củng cố các giá trị bảo tồn của khu vực.

Mục tiêu của nghiên cứu là để hiểu rõ các mối đe dọa đối với Khu bảo tồn thiên nhiên và cũng để xác định các hình thức sử dụng rừng của cộng đồng địa phương hiện nay. Đồng thời tiến hành quá trình đào tạo cho các cán bộ của Khu bảo tồn về các kiến thức đa dạng sinh học, bảo tồn và lập bản đồ cộng đồng thông qua công việc trên hiện trường. Khu vực này cũng sẽ được thực hiện thí điểm mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng do đó các thông tin phân vùng theo các tiểu khu có thể giúp chúng ta xác định các can thiệp có thể dẫn đến giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng; thông qua cải thiện quản lý rừng và thực hiện các sinh kế bền vững, cải thiện phân vùng và hệ thống tăng cường quản lý rừng. Việc đánh giá được thực hiện ba hoạt động chính, cụ thể là khảo sát các loài tiêu biểu; bản đồ sử dụng và tác động của cộng đồng; và nâng cao năng lực.

 

Khảo sát các loài tiêu biểu: Các loài tiêu biểu đã được xác định là các loài dễ nhận biết, bị đe dọa hoặc là loài mục tiêu của các thợ săn, các loài có ưu tiên bảo tồn như chà vá chân đỏ, vượn đen má trắng, rùa và các loài khác. Ba tuyến khảo sát các loài tiêu biểu và các mối đe dọa đã được thực hiện trong khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, xuất phát từ các bản Huổi Mới 1, Piềng Lâng và Na Xai thuộc các xã Tri Lễ, Nậm Giải, Hạnh Dịch của huyện Quế Phong. Cuộc khảo sát đã được tiến hành từ tháng mười một, 2014 đến tháng tư, 2015.

Lập bản đồ cộng đồng: Các cuộc họp cộng đồng và lập bản đồ đã được thực hiện tại 10 thôn bản trong và xung quanh khu bảo tồn Pù Hoạt để cung cấp thông tin bổ sung cho quan sát trên hiện trường, với 254 người được phỏng vấn.

Nâng cao năng lực: Tổng số 25 cán bộ kiểm lâm của Khu BTTN Pù Hoạt đã được nâng cao năng lực thông qua đào tạo chính quy và ‘qua công việc’ về các kiến thức: bảo tồn đa dạng sinh học / quản lý khu bảo tồn; làm việc với cộng đồng; phương pháp điều tra / phỏng vấn cộng đồng; khảo sát các loài tiêu biểu và giám sát; thu thập dữ liệu và sử dụng GPS. 22 cán bộ của Khu BTTN Pù Hoạt đã tham gia một tour du lịch nghiên cứu tại Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình, Phong Điền và Vườn quốc gia Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế.

 

Khảo sát hệ động vật tập trung vào các loài tiêu biểu, khảo sát thực hiện bằng các đường mẫu cắt ngang. Có tổng cộng 74,73 km khảo sát thực địa đã được thực hiện. Không thể ước tính mật độ quần thể từ hình thức đánh giá nhanh này, và dữ liệu được trình bày trong báo cáo được xác định như tần số gặp, định lượng bằng quãng đường hoặc số giờ khảo sát trong các môi trường trên thực địa. Sáu sinh cảnh đã được xác định trên các tuyến khảo sát khác nhau ở khu BTTN Pù Hoạt: Nương rẫy đang hoạt động, rẫy bỏ hoang, rừng thường xanh thứ sinh, rừng rụng lá nguyên sinh, rừng nguyên sinh trên núi đá vôi, rừng lùn trên núi cao và môi trường sống suối / ven sông. Các sinh cảnh khác nhau về thành phần loài thực vật, vị trí địa lý, độ cao và mức độ tác động của con người.

 

 

Có bảy loại mối đe dọa trên rừng của Khu Bảo tồn và động vật hoang dã được xác định bởi cộng đồng địa phương, khai thác gỗ bất hợp pháp, đốt rẫy trong ranh giới khu bảo tồn, khai thác lâm sản ngoài gỗ không bền vững; săn bắt động vật, bẫy và thu hoạch mật ong…, đặt bẫy hàng rào (với hàng trăm đến hàng ngàn) đã bắt gặp, với tần suất trung bình mỗi km của bẫy là 2.47 hàng bẫy / km, chiếm 46,38% so với các dấu hiệu của tác động khác, khai thác gỗ bất hợp pháp: tổng số 46 lần quan sát đã bắt gặp trong quá trình điều tra tại Khu BTTN Pù Hoạt, chiếm 33,33% tổng số các dải cắt ngang khảo sát. Tần số của khai thác gỗ bất hợp pháp là 1,78 quan sát / km.

 

Mười loài tiêu biểu đã được ghi lại bởi các khảo sát theo dải cắt ngang: Các loài Mang (Muntiacus puhoatensis và Megamuntiacus vuquangensis); Sơn dương (Capricornis sumatraensis); Voọc xám (Semnopithecus phayrei); Lợn rừng Trường Sơn (Sus sp); Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys); Trĩ sao (Lophura nycthemera); Niệc mào đỏ (Buceros bicornis); Rùa đầu to (Platysternum megacephalum) và Rùa hộp (Cuora galbinifrons). Mười hai loài được ghi nhận thông qua đánh giá của cộng đồng địa phương: bao gồm gấu (gấu ngựa và gấu chó); Khỉ mặt đỏ (tất cả các loài); Vượn đen má trắng; Voọc xám; Mang (tất cả các loài); Sơn dương; Lợn rừng trường sơn; Nai; Nhím; Hồng hoàng (các loại); Trĩ sao; Rùa đầu to. Nhìn chung, kết quả khảo sát ở Pù Hoạt chỉ ra rằng hệ thực vật ở đây điển hình của dãy Bắc Trường Sơn. Tuy nhiên, sự tồn tại của quần thể của một số loài rất hiếm này đáng ngạc nhiên. Mặc dù Hổ và có lẽ Chà vá chân đỏ có thể không còn tồn tại, và Bò tót và Voi có lẽ gần như biến mất, nhưng quần thể khá lớn của một số loài linh trưởng, gấu và các loài quan trọng khác vẫn còn. Quần thể hiện còn tương đối lớn của hai loài đặc hữu cho Pù Hoạt là Mang Pù Hoạt và Mang lớn, đặc biệt có ý nghĩa cao.

 

Quần thể Samu dầu Cunninghamia konishii có mật độ rất cao ở Pù Hoạt, điều này cho thấy quần thể của loài này chủ yếu khu vực Bắc miền Trung Việt Nam chủ yếu là ở đây

 

Người dân bao gồm hai nhóm thiểu số là Hmông và Thái, hầu hết các thành viên của cộng đồng trong các thôn khảo sát có thể đi qua biên giới Lào và có mối quan hệ với các thôn bản ở vùng biên của Lào, họ thường xuyên băng qua đường trong rừng để bán và mua các mặt hàng và để thăm người thân sống ở các làng ở gần biên giới Lào. Mỗi thôn có diện tích rừng truyền thống được sử dụng thường xuyên. Diện tích rừng đang được sử dụng theo tập quán truyền thống và các quy định của làng không có tranh chấp về việc sử dụng các khu vực rừng này. Các quy định sử dụng các khu rừng truyền thống theo tập quán thường do già làng quy định, đây là người biết rõ nhất về các khu vực rừng sử dụng cũng như khu vực canh tác xung quanh. Mỗi làng có một khu vực rừng riêng biệt sử dụng thu hái các sản phẩm rừng cho hàng ngày, khu vực này phụ thuộc vào vị trí, địa hình và tài nguyên từng gần thôn bản; thay đổi từ 735 – 5.800 ha. Mỗi làng có một khu rừng thiêng với các mục đích khác nhau như rừng dược liệu truyền thống, rừng ma. Rừng tâm linh của mỗi thôn bản, có mức độ dao động từ 176 ha đến 394ha. Khu vực rừng sử dụng thường xuyên của cộng đồng địa phương và các khu rừng thiêng của họ là không có sự chồng chéo giữa các cộng đồng và có quy định riêng.

 

Lập bản đồ cộng đồng đã được thực hiện tại ba xã, Tri Lễ, Nậm Giải, Hạnh Dich

Diện tích quản lý rừng của người dân địa phương lớn hơn hoặc nhỏ hơn so với khu vực mà họ được giao bởi Khu Bảo tồn. Có một sự trùng lặp giữa đất rừng được quản lý và thực tế diện tích rừng trên bản đồ.

 

Dự án liên quan

Quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở xã Yên Na, huyện Tương Dương, Nghệ An

1.     GIỚI THIỆU Mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã tồn tại từ lâu trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở vùng...

Giám sát 2 loài Linh trưởng quý hiếm Vượn má trắng và Voọc xám tại Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt

Nghệ An

1.Tính cấp thiết Động vật nói chung và các loài linh trưởng nói riêng là một thành phần quan trọng của các hệ sinh thái rừng...