BÁO CÁO KẾT QUẢ CHƯƠNG TRÌNH TUẦN TRA GIÁM SÁT ĐA DẠNG SINH HỌC KHU BTTN PÙ HOẠT 20/10/2018 admin Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt nằm trong Khu dự trữ sinh quyển thế giới miền Tây Nghệ An, Việt Nam Bản báo cáo được thực hiện bởi nhóm cán bộ Khu Bảo tồn TN Pù Hoạt do Chuyên gia Lâm nghiệp Nguyễn Thanh Chung làm Trưởng nhóm và Giám đốc Nguyễn Danh Hùng thực hiện vào tháng 10/2016 1. Tầm quan trọng về bảo tồn đa dạng sinh học của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt Khu Bảo tồn thiên nhiên (Sau đây viết tắt là Khu BTTN) Pù Hoạt được chuyển đổi từ Ban quản lý rừng phòng hộ Quế Phong theo Quyết định số 1109/QĐ-UBND, ngày 02/04/2013 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An, với mục tiêu nhằm bảo tồn các hệ sinh thái và các loài động thực vật đặc trưng cho khu vực, nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh 180km. Theo Quyết định số 590/QĐ-UBND ngày 19/02/2014 về việc phê duyệt “Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng Khu BTTN Pù Hoạt giai đoạn 2013- 2020” thì diện tích quản lý của Khu BTTN Pù Hoạt là 85.761,43ha, trong đó rừng đặc dụng 34.589,89 ha, rừng phòng hộ 51.171,54 ha. Là một trong 3 khu rừng đặc dụng nằm trong “Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An” đã được UNESCO công nhận ngày 20-9-2007. Có giá trị đa dạng sinh học cao chứa đựng nhiều hệ sinh thái, cảnh quan, đa dạng loài và đa dạng nguồn gen cao, Theo phương pháp phân loại của Fao Rome 1989, kết hợp với hệ thống phân loại của Thái Văn Trừng, và kết quả điều tra, thảm thực bì vùng quy hoạch Khu BTTN Pù Hoạt được phân thành các kiểu chính sau: – Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi cao hỗn giao cây lá rộng với cây lá kim Kiểu rừng này có diện tích là 1.256,9 ha, phân bố ở độ cao >1.700m của các khối núi chính là: Pù Hoạt, Pù Pha Lông, Pù Pha Nhà, Pù Cao Mạ và một phần nhỏ ở biên giới phía Bắc giáp huyện Thường Xuân – Thanh Hóa. Kiểu rừng này ít bị tác động, tính nguyên sinh còn cao. Thực vật chiếm ưu thế là cây lá rộng, cây lá kim có một số loài tầm vóc to lớn nhưng mật độ và sinh khối không vượt quá 30%. Tầng cây gỗ nhỏ và cây tái sinh với các loài của họ Ngũ gia bì (Araliaceae) như các loài Chân chim (Schefflera), Đu đủ rừng (Trevesia), Thụ sâm (Dendropanax), họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae) với các chi Euonymus; họ Cà phê (Rubiaceae) với các chi Randia, Canthium và các cây tái sinh của tầng ưu thế với mật độ khoảng 6.000 cây/ha. Tầng vượt tán với 2 loài lá kim có giá trị là Pơ mu (Fokienia hodginsii) và Sa mu dầu (Cunninghamia konishii), những cây này có đường kính trung bình 50 – 80 cm, chiều cao 45 – 50 m vươn lên khỏi tán rừng một cách rõ rệt. Sa mu dầu (Cunninghamia konishii) với tầm vóc to lớn nhưng không có bạnh vè, nhiều cây có đường kính ngay từ gốc đã đạt trên 2m. Đặc biệt đã phát hiện 01 cây có đường kính 3,6m, tạo nên một cảnh quan hấp dẫn ngoạn mục của kiểu rừng mang tính chất á nhiệt đới vùng núi cao.Về mặt sinh khối, kiểu rừng này trữ lượng trung bình đạt 160 – 200 m3/ha, chiều cao trung bình 16 – 20 m, đường kính 22 – 28 cm. Ở độ cao trên 2.300 m của đỉnh Pù Hoạt với diện tích 200 ha xuất hiện kiểu phụ rừng lùn (Elfin forest), luôn luôn có mây mù bao phủ, độ ẩm cao, gió thổi mạnh, cây thấp lùn, có rêu bám dày, tầng mùn chưa phân hủy dày 25 –30 cm, tầm vóc cây biến động tùy độ dốc và mặt bằng, thành phần loài gỗ có Đỗ Quyên (Rhododendron bracteatum), Nam chúc (Lyonia ovalifolia), Châu thụ (Gaultheria), Mạy châu (Carya tonkinensis), Dẻ (Quercus), Chè béo (Anneslea), Côm (Elaeocarpus), Dẻ lá tre (Quercus bambusaefolia). Về ngoại mạo, cây không thẳng, tầm vóc cây rất biến động, đường kính trung bình 6 – 14cm, chiều cao trung bình 6 – 10 cm, thân cây có rêu bao bọc dày và các loài bì sinh thuộc họ Phong lan (Dendrobium, Eria, Coelogyne, Thecopus, Oberonia) với khoảng hơn 40 loài; Họ Cà phê (Rubiaceae) với 2 loài vừa bì sinh vừa cộng sinh là Tổ kiến (Myrmecodia tuberosa) sống bám trên cành cây, thân do cộng sinh với Nấm đã mọng nước và phình ra cỡ lớn như các củ khoai to. Trước khi tới rừng lùn, xuất hiện một vành đai rừng Sặt (Arundinaria baviensis) ở độ cao 2.300 m và rộng khoảng 200 m, với các cây sặt có đường kính 1,3 – 1,7 cm; cao 2,5 – 3,5 m; Mọc tản, mật độ khoảng 20.000 cây/ha, mọc trên tầng mùn cũng chưa phân hóa, cũng có cảm giác rùng rình như ở trên đỉnh. Rừng Sặt tạo nên một cảnh quan đẹp của đỉnh núi khá hấp dẫn trước khi đưa ta tiếp cận với rừng Lùn trên đỉnh. Trong kiểu rừng này, có nhiều loài quí hiếm và đặc hữu, rừng gần như còn nguyên vẹn, ít sự tác động của con người. Về mặt khoa học, là một trong rất ít khu vực của nước ta còn giữ được một mẫu rừng vùng đỉnh núi với nhiều loài đặc hữu và đặc biệt là sự tồn tại của các loài cây lá kim (hạt trần) cổ như: Pơ mu (Fokienia hodginsii), Bách xanh (Calocedrus macrolepsis), Sa mu dầu (Cunninghamia konishii), các loài này tuy số lượng và sinh khối trên toàn rừng không lớn nhưng là những cây có tầm vóc lớn cả về chiều cao và đường kính mà không có loài nào cây nào ở trong nước có thể sánh nổi. – Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi trung bình Diện tích 46.273,8 ha, ở độ cao 700 -1.700m, phân bố rộng khắp vùng sườn núi từ các tiểu khu giáp Thanh Hóa, đầu nguồn sông Chu cho tới sườn Pù Pha Nhà, Pù Cao Mạ, Pù Pha Lâng và phía Đông núi Pù Hoạt. Kiểu rừng này còn giữ được tính nguyên sinh cơ bản, xen lẫn với những diện tích đất chưa có rừng với từng đám nhỏ. Thực vật chiếm ưu thế là cây lá rộng, sinh trưởng tốt, cây lá kim có Kim giao (Nageia fleuryi) rải rác đôi chỗ trên các sườn dông và rất dốc. Cây lá rộng với các loài tiêu biểu của các Họ sau: Họ Dẻ (Fagaceae) có khá nhiều loài và cũng chiếm ưu thế trong một số tổ thành đại diện như: Cà ổi (Castanopsis ceratacantha, C. ferox, C. indica), Dẻ đá (Lithocarpus dussaudi), Sồi (L. trachycarpus), Dẻ cau (Quercus fleuryi); Họ Re (Lauraceae) có 30 loài của các chi; Họ Dầu (Dipterocarpaceae) tuy ít loài nhưng ở nhiều lâm phần ở Thông thụ và Phu Pha Nhà đã chiếm ưu thế tuyệt đối tới trên 50% trong tổ thành. Họ Mộc lan (Magnoliaceae) với nhiều cây gỗ lớn của các chi Giổi (Michelia, Manglietia, Tsoongiodendron); Họ Hồng xiêm (Sapotaceae) với nhiều loài cây gỗ nổi tiếng Sến mật (Madhuca pasquieri) với đường kính trên 60 – 80 cm cũng đôi khi chiếm 3 – 5% trong tổ thành. Ở kiểu rừng này các họ sau xuất hiện và đóng vai trò quan trọng là Họ Xoan (Meliaceae) với các loài Gội (Aglaia); Họ Bồ hòn (Sapindaceae) với các loài Sâng (Pometia), Trường (Mischocarpus); Họ Thị (Ebenaceae) có 6 – 7 loài của chi Diospyros. Đường kính trung bình 24 – 28cm, ở những lâm phần chưa bị tác động, dễ dàng gặp các cây có đường kính trên 45cm, những cây có đường kính lớn hơn thường gặp ở các loài Chò chỉ (Parashorea chinensis), Sến mật (Madhuca pasquieri), Sâng (Pometia), Thung (Commersonia bartramia), Giổi (Manglietia fordiana), Gội (Aglaia gigantea), Lát (Chukrasia tabularis), chiều cao bình quân 20 cm. Trữ lượng bình quân 150 – 200 m3/ha, ở các trạng thái giàu trên Pù Pha Nhà, giáp Lào và Pù Nhích, Thông Thụ có cá lâm phần rừng giàu đạt tới 550 m3/ha. Kiểu rừng này phần lớn cũng là rừng ít bị tác động, tính nguyên sinh cao và là nơi rước đây đã phát hiện nhiều động vật quí hiếm sinh sống như: Voi (Elephas maximus), Bò tót (Bos gaurus), Hươu nai (Cervidae), Gấu (Urcidae), Hoẵng (Muntiacus muntjak). Rừng chia làm 4 tầng: + Tầng vượt tán ở đây không phải là các cây lá kim như kiểu trên, mà là các loài Chò chỉ (Parashorea chinensis), Thung (Commersonia bartramia), Sến mật (Madhuca pasquieri). Tầng vượt tán cũng không vượt trội tầng tán rừng như ở kiểu rừng nhiệt đới núi cao kể trên; + Tầng ưu thế sinh thái tạo nên tán rừng tương đối đồng đều cao 18 – 20 m với đa số cây lá rộng kể trên: Táu muối (Vatica diospyroides), Sến mật (Madhuca pasquieri), Lát (Chukrasia tabularis), Nhọc (Polyalthia lauii), Gội (Aglaia gigantea), Thị rừng (Diospyros), Đinh (Markhamia sp.), Trâm (Syzygium sp.), Giổi (Manglietia fordiana), Re (Cinnamomum sp.), Dẻ (Castanopsis sp), Sồi (L. trachycarpus),… khoảng 1/4 số cây ở tầng này có bạnh vè. + Tầng dưới tán bao gồm nhiều loài của họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae) như Nen, Chẩn (Microdesmis), Nàng hai (Sumbaviopsis albicans); họ Cà Phê (Rubiaceae) như Mãi táp (Randia) và các loài phổ biến như Máu chó (Knema conferta), Bời lời (Litsea baviensis), Chân chim (Schefflera), Bưởi bung (Acronychia), Sảng đất (Sterculia lanceolata) + Tầng cỏ quyết: Ngoài các Dương xỉ còn có Ráy (Alocasia macrorrhiza), Thiên niên kiện (Homalomena occulta), Hương bài (Dianella ensifolia), Mây (Calamus tonkinensis), Song (Calamus platyacanthus), Lá dong (Phrynium), Lụi (Licuala fatua), Lá nón (Licuala hexasepala) – Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi thấp Phân bố ở độ cao dưới 700m, trên đất feralit đỏ vàng phát triển trên granit, sa phiến thạch, tầng đất mỏng đã bị rửa trôi mạnh ở một số lớn diện tích, do có những giai đoạn mà thảm che bị phá vỡ do đốt nương rẫy. Thảm thực vật không đồng đều với nhiều Họ và nhiều đại diện ưa sáng của họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), Sim (Myrtaceae), Xoan (Meliaceae), Dâu tằm (Moraceae), Cánh bướm (Papilionaceae), Vang (Caesalpiniaceae), Thị (Ebenaceae), Long não (Lauraceae), Dẻ (Fagaceae), Côm (Elaeocarpaceae). Rừng chia thành 3 tầng: + Tầng ưu thế sinh thái tạo thành tán rừng với các loài điển hình: Chẹo (Engelhardtia), Bứa (Garcinia), Vạng trứng (Endospermum), Lim xẹt (Peltophorum), Mọ (Deutzianthus), Muồng (Adenanthera), Đa (Ficus), Mãi táp (Randia), Ngát (Gironniera), Côm (Elaeocarpus), Bời lời (Litsea), Chắp (Beilschmiedia). Về mặt tài nguyên, đa số các lâm phần nghèo nằm ở kiểu rừng này với trữ lượng dưới 10 m3/ha; + Tầng dưới tán có nhiều loài và thay đổi theo địa hình chủ yếu có các họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Cam (Rutaceae), họ Đay (Tiliaceae), họ Vang (Caesalpiniaceae), họ Cà phê (Rubiaceae),… + Tầng cỏ quyết: nhiều loài Dương xỉ, cọ, lụi và xuất hiện của nhiều Giang (Dendrocalamus patellaris), Nứa (Neohouzeaua), Ráy (Alocasia macrorrhiza), Lá nón (Licuala hexasepala), Lá khôi (Ardisia silvestris), Trọng đũa (Ardisia), Lấu (Psychotria),… Kiểu rừng này đất chưa bị rửa trôi trầm trọng, tình hình tái sinh tốt với nhiều loài cây giá trị.Số lượng cây tái sinh đạt 10.000 cây/ha, số cây có cấp H trên 3 m khoảng 2.200 cây/ha.Kiểu rừng này tuy bị tác động bởi các hoạt động nương rẫy và khai thác trộm, nhưng đôi chỗ vẫn còn giữ tính nguyên sinh và có nhiều loài thú lớn sinh sống. – Rừng kín thường xanh lá rộng mưa mùa trên núi đá Kiểu phụ này nằm trong vành đai rừng lá rộng thường xanh núi thấp dưới 800m, phát triển trên núi đá, có diện tích 192,65 ha, phân bố ở xã Thông Thụ phía Bắc sông Chu và một diện tích nhỏ rải rác ở Pù Pha Nhà và Pù Ca Tũn. Rừng chia ra làm 3 tầng chính, tầng ưu thế tạo thành tán rừng không đồng đều hình thành các ưu hợp với các loài điển hình: Lòng mang (Pterospermum), Ruối ô rô (Taxotrophis), Na hồng (Miliusa), Dền (Xylopia), Bưởi bung (Acronychia), Thâu lĩnh (Alphonsea), Bứa (Garcinia), Chẩn (Microdesmis), Thị rừng (Diospyros), Đại phong tử (Hydnocarpus), Gội núi (Aglaia perviridis), Trâm (Eugenia resinosa). Trên các lập địa hơi bằng hoặc tích tụ mùn có một số cây tầm vóc lớn vượt khỏi tầng ưu thế: Sâng (Pometia), Sấu (Dracontomelon duperreanum), Thung (Commersonia bartramia), Gội núi (Aglaia silvestris), Đa (Ficus), Trường (Amesiodendron chinense), Huỳnh đường (Dysoxylum sp), Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Lát (Chukrasia tabularis) với đường kính đôi khi vượt 70 – 100 cm, chiều cao 22 – 25 m. Tầng cây bụi với các loài Trọng đũa (Ardisia), Lấu (Psychotria), Vệ mao (Euonymus), Ba gạc (Rauvolfia verticillata), Lụi (Licuala fatua), Cau rừng (Pinanga duperreana).Kiểu phụ này ở vùng Pù Hoạt còn nguyên vẹn, chưa bị tác động, hiểm trở, là sinh cảnh tốt cho cá loài thú thuộc nhóm Cầy (Chrotogale awstoni), Sóc (Callosciurus inornatus), Nhím (Hystricidae) sinh sống và trú ẩn. – Kiểu rừng nhân tác tre, nứa Kiểu rừng này có diện tích 1.372,57 ha, phân bố, giang, nứa, lùng phát triển hầu như thuần loài, nứa tép phát triển trên một số nương rẫy bị bỏ hoang lâu ngày hoặc do người dân khai thác quá mức, rừng lác đác có một số cây gỗ như Dẻ gai (Castanopsis lecomtei); Ràng ràng (Ormosia balansae); Đa quả xanh (Ficus annulata); Ngát lông (Gironniera nervosa)… nhưng đa phần cong queo, sâu bệnh. -. Kiểu rừng hỗn giao gỗ – tre nứa Kiểu rừng này có diện tích 6.922,57 ha, phân bố rải rác ở độ cao <1.200m dọc theo các suối và gần bản làng, được hình thành sau khai thác kiệt. Rừng tre nứa xuất hiện sau nương rẫy bỏ lại lâu ngày với các loài Nứa (Neohouzeaua); Lùng (Lingnania); Giang (Dendrocalamus patellaris)mọc vào các khoảng trống tạo nên kiểu rừng hỗn giao gỗ và tre nứa. Thành phần cây gỗ phức tạp chủ yếu là các loài cây gỗ nhóm 5 đến nhóm 8 như: Dẻ (Castanopsis, Lithocarpus); Côm xanh (Elaocarpus griffithii); Mán đỉa (Archidendron kerrii); Sòi núi (Balakata baccata), Vạng trứng (Endospermum chinensis)…và một số loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh như: Ba soi lông (Macaranga balansae); Ba bét (Mallotus apelta); Lá nến (Bacaranga dencutilata); Hu (Trema)…Tái sinh cây gỗ ít, chỉ có dưới 2.000 cây/ha, trong đó cây gỗ tốt chỉ chiếm 20%.Quá trình sinh trưởng của tre, nứa đã qua nhiều kỳ nên hiện tượng khuy đã xẩy ra. – Kiểu rừng trồng Diện tích rừng trồng ở Khu BTTN Pù Hoạt có 13,76 ha, phân bố rải rác, các loài cây trồng chủ yếu là Keo(Acacia auriculacefomis, Acacia mangium); Xoan (Melia azedarach); Quế (Cinnamomum tamala),… – Kiểu quần lạc cỏ, cây bụi, có cây gỗ rải rác trên núi đất Kiểu quần lạc này có diện tích 8.826,95 ha, có nguồn gốc từ nương rẫy cũ đã bỏ hoang hóa lâu ngày. Ngoài một số cây gỗ có kích thước nhỏ như Thành ngạnh (Clatonxylum fomosum); Ba soi lông (Macaranga balansae); Ba bét (Mallotus apelta); Lá nến (Bacaranga dencutilata); Hu (Trema);… thảm thực vật cây bụi Mua (Chrysopogon aciculatus); Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa); Thảo quyết minh (Cassia torra); Ké hoa vàng (Sida acuta Burm);… thảm cỏ có Cỏ tranh (Imperata cylindrinca); Lau (Saccharum arundinaceum); Chít (Thysanolaena maxima), Cỏ may (Chrysopogon aciculatus);… nhìn chung đất đã bị xói mòn mạnh và bắt đầu thoái hóa. Diện tích đất nông nghiệp phần lớn là đất bồi tụ ven sông, suối đã được cải tạo nhiều năm thành đất có khả năng trồng lúa, hoa màu và một số diện tích đất trồng hoa màu ven chân đồi của các hộ gia đình trong Khu BTTN Pù Hoạt. Kết quả điều tra khảo sát đa dạng sinh học năm 2013 với sự phối hợp giữa Đoàn điều tra Quy hoạch lâm nghiệp Nghệ An và các giáo viên của trường đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, cán bộ BQL Khu BTTN Pù Hoạt, đã thống kê kết quả động thực vật như sau: * Về thực vât: Thực vật bậc cao có mạch điều tra được gồm 676 loài, tập trung trong 397 chi, 140 họ, phân bố không đều trong 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Ngành Hạt kín (Angiospermae) có 626 loài (chiếm 92,60% so với toàn hệ), 370 chi (93,20%) và 122 họ (87,14%). Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) 30 loài (4,44%), 14 chi (3,53%), 9 họ (6,43%). Các ngành Hạt trần (Gymnospermae), ngành Thông đất (Lycopodiophyta), ngành Mộc tặc (Equisetophyta) có số loài, chi, họ nhỏ; thiếu vắng ngành Khuyết lá thông (Psilotophyta). + Đa dạng cấp độ dưới ngành: Lớp Hai lá mầm chiếm ưu thế so với lớp Một lá mầm, cụ thể gấp 4,08 lần ở cấp họ (98/24); 3,93 lần ở cấp chi (295/75); 4,22 lần ở cấp loài (506/120); đã thống kê được 10 họ, 10 chi thực vật có nhiều loài nhất. + Đã ghi nhận được 37 loài tên trong sách đỏ Việt Nam 2007 với 1 loài ở cấp Rất nguy cấp (CR), 13 loài thuộc cấp Nguy cấp (EN), 23 loài ở cấp Sẽ nguy cấp (VU). Mức độ nguy cấp của từng loài trong các nhóm chính còn được thể hiện ở các cấp độ khác nhau.17 loài có tên trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP (3 loài nhóm IA, 14 loài nhóm IIA). 31 loài có tên trong danh lục đỏ IUCN (2 loài cấp CR, 5 loài cấp EN, 9 loài cấp VU, 2 loài cấp NT, 5 loài cấp LR/lc, 3 loài cấp LR/nt, 1 loài cấp DD, 4 loài cấp LC. Các loài Gù hương, Gụ lau, Pơ mu, Sa mộc dầu, Thiên tuế đá vôi, Thiên tuế lược xuất hiện trong cả 3 danh lục của IUCN, Sách đỏ Việt Nam 2007 và danh mục kèm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Danh sách các loài thực vật nguy cấp tại khu BTTN Pù Hoạt TT Tên Việt Nam Tên khoa học Họ thực vật Tình trạng nguy cấp Sách đỏ 2007 IUCN 2013 ND32 1 Ba gạc (Ba gạc vòng) Rauvolfia verticillata (Lour.) Baill. APOCYNACEAE VU 2 Ba gạc lá nhỏ Rauvolfia micrantha Hook.f. APOCYNACEAE VU 3 Bách xanh Calocedrus macrolepis Kurz. CUPRESSACEAE EN IIA 4 Chò đãi Annamocarya sinensis (Dode) J. Leroy JUGLANDACEAE EN EN 5 Chò nâu Dipterocarpus retusus Blume DIPTEROCARPACEAE VU 6 Cốt toái bổ Drynaria fortunei (Kuntze ex Mett.) J.Smith POLYPODIACEAE EN 7 Củ bình vôi Stephania rotunda Lour. MENISPERMACEAE IIA 8 Dẻ đỏ (Cà ổi đỏ) Castanopsis hystrix DC. FAGACEAE VU 9 Dẻ hạnh nhân Lithocarpus amygdalifolius (Skan) Hayata FAGACEAE VU 10 Dền trắng Xylopia pierrei Hance ANNONACEAE VU VU 11 Đinh Markhamia stipulata ( Roxb) Seem BIGNONIACEAE VU IIA 12 Dó bầu (Trầm hương) Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte THYMELAEACEAE EN CR 13 Giáng hương quả to Pterocarpus macrocarpus Kurz. FABACEAE EN 14 Giổi balansa, Giổi lông Michelia balansae (A.DC) Dandy MAGNOLIACEAE VU 15 Giổi nhung Paramichelia braianensis (Gagnep.) Dandy in S.Nilsson MAGNOLIACEAE EN 16 Gội dịu Aglaia edulis (Roxb) Gray MELIACEAE LR/nt 17 Gội núi (Gội nếp) Aglaia spectabilis (Miq) Harms MELIACEAE VU LR/lc 18 Gù hương (Vù hương) Cinnamomum balansae Lecomte LAURACEAE VU EN IIA 19 Gụ lau Sindora tonkinensis A. Chev. CAESALPINIACEAE EN DD IIA 20 Hoàng đằng Fibraurea tinctoria Lour. MENISPERMACEAE VU IIA 21 Huỳnh đường (Bạch đường nam) Dysoxylum loureirii Pierre MELIACEAE VU 22 Kháo xanh Cinnadenia paniculata (Hook. f.) Kosterm. 1973 LAURACEAE VU LR/lc 23 Kim giao Nageia fleuryi (Hiekel) de Laub. PODOCARPACEAE NT 24 Kim giao Wallich Nageia wallichiana (C.Presl) Kuntze PODOCARPACEAE LC 25 Kim tuyến lylei Anoectochilus lylei Rolfe ex Downie ORCHIDACEAE IA 26 Lá khôi tía Ardisia silvestris Pit MYRSINACEAE VU 27 Lan kim tuyến Anoectochilus setaceus Blume ORCHIDACEAE EN IA 28 Lát hoa Chukrasia tabularis A. Juss MELIACEAE VU LR/lc 29 Lim xanh Erythrophleum fordii Oliv. CAESALPINIACEAE EN IIA 30 Máu chó lá lớn Knema pierrei Warb MYRISTYCACEAE VU 31 Nang trứng Hải nam Hydnocarpus hainanensis (Merr) Sleum FLACOURTIACEAE VU 32 Ngải cau Curculigo orchioides Gaertn HYPONXIDACEAE EN 33 Ngải rợm Tacca integrifolia Ker-Gawl. TACCACEAE VU 34 Ngâu dại Aglaia odorata Lour. MELIACEAE LR/nt 35 Ngũ gia bì hương Acanthopanax gracilistylus ARALIACEAE EN 36 Pơ mu Fokienia hodginsii Henry et Thomas CUPRESSACEAE EN VU IIA 37 Rau sắng Meliantha suavis Pierre OPILIACEAE VU 38 Sa mộc dầu Cunninghamia konishii Hayata TAXODIACEAE VU EN IIA 39 Sến mật Madhuca paspuiera (Dub) H.J. Lam SAPOTACEAE EN VU 40 Sưa bắc bộ Dalbergia tonkinensisPrain FABACEAE VU IA 41 Sữa, Mò cua Alstonia scholaris (L.) R. Br APOCYNACEAE LR/lc 42 Táu mật Vatica cinerrae King. DIPTEROCARPACEAE EN 43 Táu mặt quỷ Hopera mollissima C. Y. Wu DIPTEROCARPACEAE VU CR 44 Táu nước Vatica subglabra Merr. DIPTEROCARPACEAE EN 45 Thần phục Homalomena piereana Engl.et K. Krause ARACEAE VU 46 Thiên tuế đá vôi Cycas balansae Warb. CYCADACEAE VU NT IIA 47 Thiên tuế lược Cycas pectinata Griff. CYCADACEAE VU VU IIA 48 Thông lông gà (Thông nàng) Dacrycarpus imbricatus (Blume.) de Laub. PODOCARPACEAE LC 49 Thông tre lá dài Podocarpus neriifolius D. Don PODOCARPACEAE LC 50 Thừng mực lá lớn Holarrhena pubescens(Buch.-Ham.) Wall. ex G. Do APOCYNACEAE LC 51 Trắc vàng (Cọ khẹt lá nhỏ) Dalbergia assamica Benth FABACEAE VU 52 Trai lý Gacinia fagraeoides A.Chev CLUSIACEAE IIA 53 Trám đen Canarium tramdenum Dai & Yakol BURSERACEAE VU 54 Trường sâng Amesiodendron chinense (Merr) Hu SAPINDACEAE LR/nt 55 Vạn tuế Cycas revoluta Thunb. CYCADACEAE IIA 56 Vang (Tô mộc) Caesaepinia sappan L. CAESALPINIACEAE LR/lc 57 Vàng tâm Manglietia fordiana Oliv. MAGNOLIACEAE VU 58 Vù hương (Xá xị, Re hương) Cinnamomum parthennoxylon (Jack) Meissn LAURACEAE CR IIA Về khu hệ động vật: * Đã ghi nhận đươc ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt có: Lớp thú Mammalia: 118 loài, 30 họ, 12 bộ. Lớp chim Aves: 372 loài, 54 họ, 17 bộ. Lớp Bò sát Reptilia: 62loài, 16 họ, 2 bộ. Lớp Ếch nhái Amphibia: 37loài, 7 họ, 2 bộ. Thú 6 loài, Chim 66 loài, Bò sát 20 loài, Ếch nhái 11 loài. Trong số 589loài động vật có xương sống đã ghi nhận được tại KBTTN Pù Hoạt có 74 loài loài nguy cấp quý hiếm có giá trị bảo tồn cao, có 58 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 25 loài cấp đe dọa EN, 36 loài cấp đe dọa VU, 5 loài cấp đe dọa LR; 8 loài cấp CR; 323 loài có tên trong Danh lục Đỏ IUCN trong đó có: Cấp đe dọa EN có 11 loài; Cấp VU có 21 loài; Cấp LR có 57 loài; Cấp LC có 222 loài; Cấp Nt có 6 loài; Cấp DD có 6 loài; Cấp CR có 3 loài: 17 loài Phụ lục I trong CITES; 15 loài trong phụ lục II; 13 trong phụ lục III; Trong Nghị định 32CP – 2006 IB có 21; IIB có 50 loài. Về tính đa dạng loài, Khu hệ động vật Pù Hoạt ở mức độ đa dạng cao về tài nguyên Thú, mức khá về Chim, trung bình đa dạng về thành phần loài Bò sát và Ếch nhái. Tuy nhiên ở mức đa dạng cao về số bộ, họ. Đặc biệt là sự có mặt của một số loài đặc hữu, quy hiếm của Việt Nam: Voọc xám, Vượn má trắng, Hổ Đông dương, Gà lôi vằn, Thỏ vằn, Mang lớn, Mang Pù Hoạt, Bò tót, Hồng Hoàng,.. và một số loài Chim, Bò sát, Ếch nhái khác có phạm vi phân bố hẹp, hiện được thế giới đặc biệt quan tâm. 1.2 Các đe dọa và áp lực đối với đa dạng sinh học của Khu BTTN Pù Hoạt Tài nguyên thực vật và động vật của Khu BTTN Pù Hoạt đã bị suy giảm do các tác động khác nhau của con người. Ít nhất có 3 loài thú lớn (Voi, hổ Panthera tigris và Bò tót) có thể đã bị tuyệt chủng ở Khu BTTN Pù Hoạt. Quần thể của nhiều loài động vật và một số loài thực vật có gía trị kinh tế cao cũng đã bị suy giảm đáng kể. Các nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm tài nguyên sinh vật của Khu BTTN Pù Hoạt là sự khai thác quá mức tài nguyên rừng (khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ, săn bắt, buôn bán động vật hoang dã,..) và việc lấn chiếm đất rừng để canh tác nông nghiệp trong nhiều năm qua. Từ khi Ban quản lý Khu BTTN được thành lập, các hoạt động tuần tra bảo vệ được tăng cường, các áp lực đe dọa đối với tài nguyên sinh vật của Khu BTTN đã được giảm bớt, tuy nhiên theo tài liệu: Quy hoạch bảo tồn và Phát triển bền vững rừng đặc dụng Khu BTTN Pù Hoạt giai đoạn 2013-2020, đã được phê duyệt 2014), tài nguyên sinh vật của Khu BTTN Pù Hoạt vẫn đang chịu các thách thức và áp lực sau: Cháy rừng: Đây là mối đe doạ xẩy ra vào mùa kho hạn và mùa có gió Phơn Tây Nam nóng nắng kéo dài tại Khu BTTN TĐ. Trừ vùng núi cao, rừng ẩm thuộc vùng lõi Khu bảo tồn nằm giáp biên giới với nước bạn Lào, các khu vực khác của Khu BTTN và vùng đệm, đặc biệt là những sinh cảnh tre nữa, là những nơi có các khu nương rẫy, rừng trồng khác đều thuộc diện tích luôn có nguy cơ cháy rừng cao. Xâm lấn và chiếm dụng đất lâm nghiệp: là hoạt động xẩy ra khá phổ biến dọc theo vùng ranh giới Khu BTTN với vùng đệm, kể cả những nơi ranh giới đã được xác định. Tại những nơi dân còn ở lại hay nương rẫy của họ còn ở bên trong Khu BTTN, họ thường xuyên đi lại để sản xuất và thu hoạch sản nông nghiệp, cây dược liệu v.v. Lấn đất rừng tại những nơi đó là hoạt động tinh vi, khó kiểm soát. Sự nghèo đói, dân trí thấp, thiếu việc làm và phong tục tập quán lạc hậu của đồng bào dân tộc sống trong Khu BTTN và vùng đệm: Tình trạng này dẫn đến các hoạt động khai thác tài nguyên rừng như săn bắt, mua bán động vật hoang dã, khai thác cây thuốc, phong lan cây cảnh, chăn thả gia súc trong rừng và đặc biệt là lấy củi. Săn bắt, buôn bán, sử dụng trái phép sản phẩm các loài hoang dã và khai thác nguồn tài nguyên phi gỗ (củi, dược liệu,…): Đây là áp lực xẩy ra thường xuyên và khắp các vùng ở trong và xung quanh Khu BTTN. – Một số loài thú bị săn bắt, sử dụng và buôn bán tương đối phổ biến bao gồm: cầy vòi hương, cầy vòi mốc, lợn rừng, hoẵng, sóc bụng đỏ, dúi mốc lớn, don. – Một số loài chim bị săn bắt, sử dụng và buôn bán tương đối phổ biến bao gồm: gà rừng, cu gáy, gà tiền mặt vàng, gà lô vằn. – Một số loài bò sát ếch nhái bị săn bắt, sử dụng và buôn bán tương đối phổ biến bao gồm: tắc kè, rắn ráo thường, rắn sọc dưa, rắn hổ mang, rùa đất spengle, rùa hộp, Cu ru.. Nhận thức về bảo tồn và đa dạng sinh học của các cộng đồng địa phương, đặc biệt là các cộng đồng người dân tộc thiểu số bị hạn chế: Các hoạt động khai thác bất hợp pháp nguồn tài nguyên rừng trước hết là do đời sống kinh tế nghèo khổ và phong tục tập quán lạc hậu của người dân ở địa phương, song bên cạnh đó sự thiếu hiểu biết về bảo tồn của người dân, đặc biệt là người dân tộc thiểu số chiếm 98% số dân vùng đệm cũng đóng vai trò hết sức quan trọng. 1.3. Cơ cấu tổ chức của Khu BTTN Pù Hoạt Ban quản lý của Khu BTTN Pù Hoạt có 63 người, trong đó lực lượng Kiểm lâm có 12 người, được chia thành các đơn vị như sau: Ban Giám đốc: 2 người. Phòng Tổ chức – Hành chính: 06 người. Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế: 6 người (gồm 1 thạc sỹ, 5 đại học). Phòng Kế hoạch – Tài chính: 7 người. Hạt Kiểm lâm và Các cụm trạm QLBVR: 42 người (hầu hết là kỹ sư lâm nghiệp và trung cấp lâm nghiệp). Như vậy, Hạt Kiểm lâm, Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế là lực lượng chínhcó thể tham gia các hoạt động giám sát đánh giá ĐDSH của Khu BTTN Pù Hoạt. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG SINH HỌC 2.1. Định nghĩa Chương trình giám sát và đánh giá ĐDSH (GSĐG ĐDSH) là một chương trình nghiên cứu nhằm phát hiện xu thế biến đổi theo thời gian của các yếu tố sinh thái (thảm thực vật, thành phần loài động vật hoặc thực vật, trữ lượng quần thể,…) dưới tác động của con người và các tác nhân khác. Để làm được điều này, trước hết cần xác định tình trạng ban đầu của các yếu tố sinh thái và sau đó kiểm tra lại vào các khoảng thời gian nhất định (chu kỳ giám sát) để phát hiện các biến đổi đã xảy ra trong các khoảng thời gian đó. GSDG ĐDSH được thực hiện thông qua theo dõi các chỉ thị liên quan đến tình trạng của các yếu tố sinh thái, sức ép hoặc mối đe dọa và những hành động quản lý thực hiện. Kết quả của giám sát ĐDSH cho thấy xu thế biến đổi của các yếu tố sinh thái qua đó phản ánh hiệu quả của kế hoạch quản lý đã áp dụng. 2.2. Mục đích của chương trình giám sát, đánh giá ĐDSH Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên ở nước ta (gồm các khu bảo tồn thiên nhiên, các vườn quốc gia, các khu bảo vệ loài và cảnh quan,..) có vai trò rất quan trọng trong công tác bảo tồn ĐDSH của Đất nước và thế giới, nhưng cũng chính tại các khu bảo tồn này, nguồn tài nguyên sinh học vẫn đang bị xâm hại, nhiều loài động thực vật đặc hữu và quí hiếm vẫn bị khai thác. Việc xác định cụ thể sự biến đổi của các loài, môi trường sống của chúng và nguyên nhân tác động là cần thiết nhằm giúp Ban quản lý các khu bảo tồn và các nhà lãnh đạo liên quan khác lựa chọn và đưa ra các giải pháp ưu tiên thích hợp để quản lý tốt nguồn tài nguyên sinh học của khu bảo tồn. 2.3. Các chỉ số dùng trong giám sát, đánh giá ĐDSH Các chỉ số là những nguồn thông tin mà dựa vào đó có thể xác định được xu thế biến đổi của các yếu tố sinh thái hoặc hiệu quả của công tác quản lý. Các chỉ thị có thể là các thông số về đa dạng sinh học (thành phần loài, mật độ loài, tần số gặp của loài,…) hoặc các thông số không phải là đa dạng sinh học (tần số bắt gặp thợ săn trong khu bảo tồn, mật độ lán của người khai thác lâm sản trái phép trong khu bảo tồn, số vụ vi phạm phát hiện hàng tháng,…) nhưng phải có được các tiêu chí sau: – Đo đếm được: chỉ thị phải đo đếm được về chất lượng hoặc về số lượng – Chính xác: mọi người đều có thể hiểu được các thông số đo đếm biểu hiện cái gì. – Thống nhất: các chỉ thị đã được chọn không thay đổi và sử dụng cùng một phương pháp thu thập số liệu trong suốt thời gian thực hiên chương trình giám sát. – Nhạy cảm: các chỉ thị phải phản ảnh chính xác những sự thay đổi đã được xác định trong chiến được giám sát. 2.4. Đối tượng giám sát Các đối tượng đưa vào giám sát có thể là yếu tố về sinh học (thảm thực vật, các loài thực vật, các loài động vật) hoặc không phải là yếu tố sinh học (tác động tiêu cực của con người đến ĐDSH, hiện tượng bất thường của thiên nhiên,…). Việc lựa chọn đối tượng nào để giảm sát là tùy thuộc vào yêu cầu giải quyết các vấn đề quản lý ĐDSH của khu bảo tồn và khả năng hiện có để thực hiện giám sát các đối tượng đó (khả năng tài chính, nhân lực, thiết bị, địa hình đi lại khó khăn, …). Đối với các loài sinh vật (hoặc nhóm loài) được chọn làm đối tượng giám sát phải có tất cả hoặc một số trong các tiêu chí sau: Chắc chắn còn sinh sống trong khu bảo tồn. Thuộc diện đang bị đe dọa diệt vong trong nước hoặc trên toàn cầu. Có giá trị kinh tế cao, là đối tượng khai thác của người dân địa phương hiện nay. Quần thể dễ bị thay đổi do áp lực săn bắt, khai thác hoặc mất sinh cảnh. Các cán bộ của khu bảo tồn tham gia giám sát có khả năng nhận biết đươc. Chọn loài giám sát rất quan trọng bởi vì thay đổi loài giám sát đồng nghĩa với việc huỷ bỏ các kết quả điều tra giám sát trước đây và chương trình điều tra giám sát không còn giá trị đối với việc xác định xu thế của quần thể theo thời gian. 2.5. Người thực hiện giám sát Thực hiện chương trình GSĐG ĐDSH là các cán bộ phòng Khoa học và hợp tác quốc tế, kiểm lâm viên của khu bảo tồn và người dân địa phương giàu kinh nghiệm về thực vật và động vật trong khu bảo tồn. 2.6. Thời gian và chu kỳ lặp lại cho chương trình giám sát, đánh giá ĐDSH Chương trình GSĐG ĐDSH được tiến hành lặp lại theo chu kỳ thời gian nhất định và sử dụng những phương pháp thống nhất trong toàn bộ thời gian thực hiện chương trình. Điều rất quan trọng đối với chương trình GSDG ĐDSH là “Phải tuân thủ tính ổn định khi lặp lại”, có nghĩa là trong các lần thực hiện giám sát, phải đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ lại tất cả những gì đã làm lần trước về phương pháp, địa điểm, thời gian và nhân lực. Một sự thay đổi dù là rất nhỏ về phương pháp, thời gian hoặc nhân lực sẽ làm mất giá trị của chương trình GSĐG ĐDSH và nó đồng nghĩa với việc làm lại từ đầu. Hoạt động GSĐG ĐDSH có thể thực hiện theo chu kỳ và được lặp lại sau 1 tháng vì đây là chương trình thí điểm nhằm nâng cao năng lực thực hiện giám sát đa dạng sinh học cho Khu BTTN nên số lượng các lần giám sát nhiều. Khu chương trình kết thúc thì các lần giám sát sẽ được tổ chức giãn cách thời gian 6 tháng/lần. Khoảng cách giữa 2 lần điều tra giám sát phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu là: – Tốc độ biến động của tài nguyên, thường nơi có áp lực con người lên tài nguyên lớn thì thời gian lặp lại của chương trình điều tra giám sát nên ngắn. Ví dụ, nơi các hoạt động săn bắn trộm, khai thác gỗ lén lút diễn ra mạnh,…. – Khả năng nguồn lực có được (nhân lực, tài chính, vật tư thiết bị….). Thời gian cần thiết cho một lần giám sát, bao gồm thời gian di chuyển đến địa điểm giám sát, thời gian tiến hành giám sát, thời gian trở về và thời gian dự phòng. 2.7. Các bước trong giám sát và đánh giá ĐDSH Chương trình GSĐG ĐDSH gồm các phần chính như sau: – Thực hiện chương trình giám sát hay thu thập số liệu cho chương trình giám sát theo chu kỳ đã định. – Quản lý và phân tích các số liệu giám sát. – Viết báo cáo kết quả giám sát và đề xuất các biện pháp quản lý cần thiết. III. CHƯƠNG TRÌNH GIÁM SÁT, ĐÁNH GIÁ ĐDSH CHO KHU BTTN PÙ HOẠT 3.1. Mục tiêu của chương trình Giám sát tình trạng quần thể một số loài có giá trị kinh tế và giá trị bảo tồn cao, nhạy cảm với tác động của con người và dễ nhận dạng trên hiện trường. Giám sát các tác động chính của con người đến tài nguyên sinh vật của Khu BTTN Pù Hoạtnhư khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ, săn bắt động vật hoang dã, lấn chiếm đất rừng, chăn thả gia súc và các hoạt động khác làm ảnh hưởng đến cảnh quan thiên nhiên và rừng. Hỗ trợ cán bộ Khu BTTN Pù Hoạt thiết lập và tiến hành chương trình giám sát các loài động thực vật quý hiếm, nâng cao năng lực cán bộ trong công tác giám sát đa dạng sinh học và bảo tồn. 3.2. Các đối tượng giám sát và chỉ số giám sát Do khả năng nhận dạng các loài giám sát của các cán bộ Khu BTTN Pù Hoạtcòn hạn chế cũng như mật độ của các loài giám sát ở Khu BTTN thấp nên các đối tượng giám sát được chia thành 2 cấp. Chỉ thị cấp 1 là các nhóm loài, hoặc nhóm các hoạt động vi phạm QLBV rừng. Chỉ thị cấp 2 gồm các loài cụ thể hoặc các hoạt động vi phạm cụ thể. Trong quá trình giám sát, giám sát viên sẽ cố gắng xác định chỉ thị cấp 1, nếu không được thì phải dùng các chỉ thị cấp 2. Tùy theo cấp số liệu thu được mà có thể đánh giá tình trạng của loài hoặc nhóm loài, từng hoạt động vi phạm cụ thể hoặc nhóm các hoạt động này. Dưới đây giới thiệu những đối tượng giám sát được lựa chọn. Đối với khu hệ thú, mật độ của hầu hết các loài có kích thước trung bình hoặc lớn (các loài thuộc bộ Linh trưởng, bộ Ăn thịt, bộ Móng guốc ngón chẵn, bộ Tê tê, họ Dúi và họ Nhím) đều rất thấp và chúng đều chịu chung áp lực săt bắt, do đó, quần thể của tất cả các loài này đều cần được giám sát, tuy nhiên cũng có một số loài cần ưu tiên hơn do có giá trị bảo tồn cao hoặc áp lực săn bắt lớn hơn và tương đối dễ nhận diện hơn. Vì vậy, tất cả các loài thú lớn và trung bình được xếp vào nhóm chỉ thị cấp 1, còn các loài ưu tiên được xếp vào nhóm chỉ thị cấp 2. Đôi với thực vật lựa chọn loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tác động cao như Sa mu dầu, Sến mật, Táu mặt quỷ, Giổi … Bảng 1. Danh mục các đối tượng giám sát lựa chọn và chỉ số giám sát Chỉ thị cấp 1 Chỉ thị cấp 2 Lý do chọn Các chỉ số giám sát Săn bắt và buôn bán động vật trái phép – Bẫy hoặc tuyến bẫy – Người đi săn – Các loài động vật bị săn bắt buôn bán – Tình trạng săn bắt, buôn bán động vật hoang dã của KBT vẫn xảy ra. – Số lượng bẫy hoặc tuyến bẫy phát hiện được trên km tuyến tuần tra theo quý hoặc năm – Số lượng người đi săn bắt gặp trên tuyến giám sát- Số lượng các loài động vật phát hiện bị săn bắt hoặc buôn bán. Khai thác trái phép gỗ và lâm sản ngoài gỗ – Các loài gỗ có giá trị – Củi – Tre nứa, song mây – Măng – Mộc nhĩ – Cây thuốc – Cây cảnh – Khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ vẫn xảy ra trong phạm vi KBT – Số lượng cây gỗ và trữ lượng gỗ bị chặt mới , cây chạt cũ. – Số lượng cây hoặc khối lượng lâm sản bị khai thác. – Số lượng người khai thác bắt gặp. – Khối lượng LSNG bị buôn bán. Khai thác quặng Các loại quặng bị khia thác trong KBT – Thường xảy ra ở các khu vực:….. – Số người tham gia khai thác gặp/km khảo sát – Diện tích khu vực bị khai thác – Mật độ các điểm khai thác trên km khảo sát. Xâm lấn đất rừng của KBT – Xâm lấn đất rừng của KBT để sản xuất nông nghiệp – Xâm lấn đất rừng của KBT để xây dựng cơ sở hạ tầng – Tình trạng xâm lấn đất của KBT để sản xuất nông nghiệp vẫn còn xảy ra – Diện tích rừng bị xâm lấn Chăn thả tự do trong KBT – Trâu bò chăn thả rông trong KBT – Tình trạng chăn thả trâu bò trong KBT vẫn còn xảy ra – Tần số xuất hiện các vị trí có dấu hiệu trâu bò nhà trên km tuyến khảo sát và ước tính mật độ của dấu vết Quần xã cây quý dễ bị tác động 1. Sa mu dầu (Cunninghamia konishii Hayata) – Dễ nhận dạng qua quan sát trực tiếp – Chỉ thị mức độ khai thác trái phép – Chỉ thị giá trị bảo tồn nguồn gen quý của KBT – Số loài cây thuốc gặp trên tuyến khảo sát theo quý hoặc năm. – Số lượng cây hoặc diện tích phân bố của mỗi loài trên tuyến khảo sát theo quý hoặc năm. 2. Thiên niên kiện (Homalomena gigantea Engl.) 3. Táu mật (Vatica tonkinensis) 4.Sến mật (Madhuca pasquieri) Thú lớn và trung bình Hoẵng (Muntiacus muntjak) Không – Dễ nhận dạng qua quan sát trực tiếp. – Dễ nhận diện nhóm qua dấu vết (dấu chân, hang tổ, phân, vết ăn,…) – Chỉ thị mức độ săn bắt trái phép và giá trị bảo tồn nguồn gen quý hiếm của KBT – Tần số cá thể gặp trực tiếp trên km tuyến khảo sát theo quý hoặc năm – Tần số dấu vết gặp trên km tuyến khảo sát theo quý hoặc năm. Lợn rừng (Sus scrofa) Không Sơn dương (Capricornis milneedwardsii) VU/EN Khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides) VU/VU Các loài cầy (Viverridae) Các loài chồn (Mustelidae) Gấu chó (Ursus malayanus Raffles) Gấu ngựa (Ursus thibetanus Cuvier) Sóc đen (Ratufa bicolor) Không/VU Gà rừng và Gà lôi vằn Gà rừng (Gallus gallus) Không – Dễ nhận dạng qua quan sát – Dễ nhận diện qua tiếng hót – Chỉ thị mức độ săn bắt chim trái phép – Tần số cá thể gặp trực tiếp trên km tuyến khảo sát theo quý hoặc năm Gà lôi vằn Chim khướu Khướu đầu trắng (Garrulax leucolophus) Không Khướu bạc má (Garrulax chinensis) Không 3.3. Các phương pháp giám sát – Chọn tuyến giám sát: Yêu cầu quan trọng nhất để thực hiện tốt một chương trình điều tra giám sát ĐDSH là lập tuyến điều tra giám sát. Tuyến điều tra giám sát được lập cần thoả mãn một số điều kiện sau: + Đi qua được nhiều sinh cảnh đại diện đã lựa chọn; + Các tuyến không cắt nhau và khoảng cách giữa chúng là tốt nhất ( >100m); + Khả năng ghi nhận loài giám sát là cao nhất; + Dễ nhận biết nhất ( được đánh dấu, dấu không bị mất do mưa gió). – Lựa chọn các loài giám sát Lập danh lục đa dạng sinh học (thú, chim, bò sát, lưỡng cư, bướm) tập trung nghiên cứu “các loài động vật chính”. Những loài này được chọn lựa để giám sát chủ yếu là do tầm quan trọng cần phải bảo vệ chúng và do để tiện cho việc so sánh khi phát hiện ra chúng. + Giám sát theo dải cắt ngang. Nhóm giám sát tiến hành quan sát trong quá trình đi qua các dải cắt ngang (phương pháp mẫu cắt ngang của Burnham & Anderson (1984). Vị trí của các mặt cắt được định rõ trên bản đồ bằng cách sử dụng đơn vị GPS cầm tay và độ dài của tuyến giám sát được đo trên bản đồ, thời gian tiến hành khảo sát cũng được ghi lại một cách đầy đủ. Trong quá trình tiến hành giám sát, nhóm giám sát đã cố gắng lấy mẫu của các sinh cảnh khác nhau (như sinh cảnh thung lũng, dốc núi, dông núi-đỉnh núi, suối) và đi đến các khu vực có vị trị quan trọng đối với các động vật hoang dã (như những vũng nước trên dông núi và những khu vực nơi trú ngụ của loài nhím và sơn dương..). Khi bắt gặp bất cứ một loài động vật nào (trực tiếp hoặc gián tiếp), nhóm giám sát đều ghi lại các thông tin sau: Ngày tháng và Thời gian cụ thể Vị trí GPS Độ cao (được đo bằng dụng cụ đo độ cao chuyên dụng) Các sinh cảnh: nương rẫy, nương rẫy bỏ hoá, rừng tre nứa, rừng thứ sinh thường xanh, rừng ven sông suối, sông và suối. Các loài bắt gặp. Dụng cụ để xác định: quan sát trực tiếp, các dấu vết, lông vảy, móng vuốt của gấu, thức ăn thừa và các dấu vết khác v.v. * Giám sát các hoạt động vi phạm quản lý bảo vệ rừng của Khu BTTN Pù Hoạt Việc giám sát này được kết hợp với hoạt động tuần tra rừng thường xuyên của các trạm QLBVR. Hiện nay, 8 trạm QLBVR của Khu BTTN Pù Hoạtđều có các tuyến tuần cố định và hàng tháng các Trạm đều tiến hành các đợt tuần tra theo các tuyến này. Vì vậy, các tuyến tuần tra này có thể sử dụng để giám sát tác động của con người đến tài nguyên rừng.Nếu số tuyến tuần tra nhiều có thể chọn 1-2 tuyến điển hình để giám sát. Chu kỳ giám sát là mỗi tháng 1 lần các tuyến này phải được khảo sát và ghi số liệu vào phiếu giám sát chuẩn bị sẵn. Khi các kiểm lâm viên đi tuần tra trên các tuyến, họ phải chú ý quan sát phát hiện các tác động của con người và ghi vào phiều giám sát chuẩn bị sẵn hoặc vào sổ nhật ký tuần tra. Cụ thể là: Đếm và đo đường kính các gốc cây bị chặt trên tuyến tuần tra Đếm các giá/điểm xẻ gỗ trong rừng gặp trên các tuyến tuần tra Đếm các lán thợ săn, lán khai thác gỗ gặp trên các tuyến tuần tra Đếm số bẫy hoặc tuyến bẫy gặp Đếm số người dân xâm nhập khai thác các sản phẩm của rừng gặp trên các tuyến tuần tra Đếm số điểm bị khai thác trộm lâm sản (củi, tre nứa, song mây, cây thuốc, cây cảnh,…) và tính số lượng lâm sản bị khai thác Đo diện tích đất rừng bị mất do chuyển đổi thành nương rẫy và ghi nhận dạng rừng bị mất. Ghi chú: chỉ thống kê số lượng xuất hiện sau lần khảo sát gần nhất. Được sự hỗ trợ của Dự án rừng và Đồng bằng chúng tôi thực hiện công tác giám sát đa dạng sinh học tại địa bàn 2 xã Nậm Giải và Hạnh Dịchlàm thí điểm với tổng số tuyến giám sát được bố trí trên địa bàn 2 xã là 5 tuyến (Nậm Giải 02 tuyến, Hạnh Dịch 03 tuyến). Các chỉ số giám sát bao gồm: Số lượng bẫy hoặc tuyến bẫy phát hiện được trong mỗi đợt khảo sát hoặc quy ra theo quý. Số lượng người đi săn bắt gặp trong mỗi đợt khảo sát hoặc quy ra theo quý. Số lượng các lán thợ săn gặp trong mỗi đợt khảo sát hoặc quy ra theo quý. Số lượng cây gỗ và trữ lượng gỗ bị chặt trong mỗi đợt khảo sát hoặc quy ra theo quý. Số lượng các điểm chặt trộm gỗ trong mỗi đợt khảo sát hoặc quy ra theo quý. Số lượng cây hoặc khối lượng LSNG bị khai thác trong mỗi đợt khảo sát hoặc quy ra theo quý. Số lượng người khai thác LSNG bắt gặp trong mỗi đợt khảo sát hoặc quy ra theo quý. Diện tích rừng bị xâm lấn trong mỗi khảo sát hoặc quy ra theo quý. Tần số xuất hiện các vị trí có dấu vết động vật, trâu bò nhà trên km tuyến khảo sát và ước tính mật độ của dấu vết . 3.4. Xử lý nội nghiệp Sau khi tiến hành thực hiện công tác tuần tra giám sát, số liệu thu thập về từ thực địa sẽ được cập nhập vào cơ sở dữ liệu và xử lý số liệu thống kê thông qua Excel và phần mềm bản đồ Mapinfo và Mapsource về hệ thống đường track đã đi tuần tra và bản đồ phân bố các loài động thực vật quý hiếm. Tính toán đưa ra các thông số về tần số xuất hiện các loài quý hiếm, các hành vi tác động tới tài nguyên rừng….Để từ đó nhận định các vùng điểm nóng và đưa ra biện pháp khắc phục giúp bảo tồn và phát triển một cách hiệu quả. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GSĐG ĐDSH 4.1. Kết quả giám sát thí điểm Đơn vị triển khai kế hoạch điều tra đa dạng sinh học, được phổ biến đến tận cán bộ kiểm lâm, cán bộ quản lý bảo vệ rừng biện pháp kỹ thuật trình tự, cách thức thực hiện công tác giám sắt, mục đích, yêu cầu, kết quả mong đợi…Từ đó giao thực hiện đợt giám sát. Các tuyến giám sát được lựa chọn như sau: Địa điểm giám sát: – Xã Hạnh Dịch: Tuyến1: Tọa độ điểm đầu: X: 0478710; Y: 2184410 Tọa độ điểm cuối: X: 476860; Y: 2184180 Chiều dài tuyến: 3,87 Km Tuyến2: Tọa độ điểm đầu: X: 0478409; Y: 2184989 Tọa độ điểm cuối: X: 0478347; Y: 2184701 Chiều dài tuyến: 1,48 Km Tuyến 3: Tọa độ điểm đầu: X: 0478321; Y: 2185126 Tọa độ điểm cuối: X: 0476691; Y: 2184946 Chiều dài tuyến: 2,43 Km Tổng chiều dài các tuyến: 7,78 Km Thành phần tham gia:Nguyễn Thành Hưng, Ngô Xuân Hải, Trình Ngọc Lượng, Trần Văn Thanh, Trần Ngọc Thủy và 1 người dân bản địa. – Xã Nậm Giải: Tuyến1: Tọa độ điểm đầu: X: 0475442; Y: 2181017 Tọa độ điểm cuối: X: 0474511; Y: 2182931 Chiều dài tuyến: 6,57 Km Tuyến2: Tọa độ điểm đầu: X: 0478710; Y: 2184410 Tọa độ điểm cuối: X: 476860; Y: 2184180 Chiều dài tuyến: 2,88 Km Tổng chiều dài các tuyến: 9,45 Km Thành phần tham gia: Nguyễn Thành Chung, Nguyễn Khắc Hảo, Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Bá Đại, Phan Đình Cường, Sầm Hải Dương và 1 người dân bản địa. 4.2. Mô tả sinh cảnh trên các tuyến khảo sát Các Sinh cảnh đã được mô tả trong suốt quá trình nhóm công tác điều tra trong 5 tuyến khảo sát tại xã Nậm Giải, xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong. Có 4 sinh cảnh sống đã được xác định trên các tuyến khảo sát khác nhau trong KBTTN Pù Hoạt: rẫy bỏ hoang, rừng thứ sinh (rừng phục hồi, rừng nghèo), rừng nguyên sinh lá rộng thường xanh trên núi đât và môi trường sông/ suối. Các sinh cảnh khác nhau về thành phần loài thực vật, vị trí địa lý, độ cao và mức độ tác động của con người khác nhau. * Sinh cảnh nương rẫy hoạt động – nương rẫy bỏ hoang Khu vực phân bố sinh cảnh này nằm xung quan bản Piêng Lâng và chân núi Pà Lâng, có chiều dài 2.310m, là những diện tích bị bà con đồng bào nơi đây phát nương làm rẫy có thời gian từ trong khoảng 5 năm trở lại đây; đạc điểm trạng thái trên diện tích này là trảng cỏ cây bụi hoạc cây bụi có cây gỗ rải rác. Các loại cây nơi đây thường là cây ưa sáng mọc nhanh như Hu đay, Ba soi, Ba bét, Bùm bụp rải rác một số loài cây họ Dẻ, Thôi Ba, ràng ràng.. Vị trí từ 475160 đến 476230 E 2179720 đến 2181210 N (Theo hệ tọa độ UTM Zone 48 múi 60) Khu vực dưới chân đỉnh Phà Lâng là diện tích lúa nước trước đây bỏ hoang nay đã và đang khôi phục lại một phần; rừng tái sinh khu vực xung quang núi là loại rừng phục hồi và một số diện tích rừng nghèo với đường kính trung bình 20 -30cm. Vị trí từ 475450 – 476130E 2179766 – 2180650N (Theo hệ tọa độ UTM Zone 48 múi 60) * Sinh cảnh rừng thứ sinh thường xanh – Tại xã Nậm Giải: Khu vực này nằm tiếp giáp với khu vực nương rẫy bỏ hoang thuộc tuyến 1, tại khoảnh 6, 8 tiểu khu 92. Tổ thành loài với cây ưu thế làcây Táu muối Parashorea chinensis, Dẻ, Ràng ràng.. Vị trí từ 474990 – 475160E 2181310 – 2181160N * Sinh cảnh rừng nguyên sinh lá rộng thường xanh – Xã Nậm Giải: Sinh cảnh này này được đặc trưng những khu vực có độ dốc cao, chia cắt bởi các suối nhỏ có dòng chảy mạnh. Kiểu rừng ít bị tác động của con người là nơi trú ngụ của các loài động vật quý hiếm khác nhau. Ở thượng nguồn của suối Cò Mự nằm khu vực thuộc khoảnh 1, 2, 3 tiểu khu 92 nơi có một số thác nước cao 80-100 m. Thành phần thực vật chính ở hai bên suối Cò Mự là Sa Mu dầu Cunninghamia konishii với đường kính 3-4m, ngoài ra có một số loài khác là Giổi, De, Táu mật, Sến mật .. Vị trí từ: 474200 đến 474830 E 2181870 đến 2183220 N Đa số diện tích khu vực đỉnh núi Phà Co Mự, thành phần thực vật điển hình ở tầng tán che là Sa Mu dầu Cunninghamia konishii. Các loài thực vật chính khác là Re, Giổi, Dẻ, Cồng, … – Xã Hạnh Dịch: Cả 3 tuyến giám sát đa dạng sinh học đều nằm thuộc vào kiểu rưng nguyên sinh lá rộng thường xanh có độ cao phân bổ từ 900 m đến 1200 m. Thành phần thực vật chủ yếu ở đây là Táu muối, Táu mật, Re, Dẻ, Giổi… Vị trí từ: 476660 đến 478880 E 2184210 đến 2185230 N * Sinh cảnh sông suối Các suối có dòng chảy mạnh, bề rộng 2-5m, ở những vị trí khá cao. Trong thung lũng của các suối huồi Dừm có Sa mu dầu Cunninghamia konishii phân bố từ dọc suối đến đỉnh núi. 3.2. Thống kê điều tra giám sát đa dạng sinh học trên tuyến khảo sát: 3.2.1. Tuyến điều tra giám sát: Tuyến khảo sát điều tra giám sát hoạt động đa dạng sinh học được tiến hành trên địa bàn 2 xã Nậm Giải và Hạnh Dịch và được chia làm 5 tuyến với tổng số 12 đợt đi điều tra giám sát, thời gian tiến hành trong vòng 6 tháng. Cụ thể như sau: – Xã Nậm Giải: Tiến hành 6 đợt đi theo 2 tuyến sau: Tuyến1: Tọa độ điểm đầu: X: 0475442; Y: 2181017 Tọa độ điểm cuối: X: 0474511; Y: 2182931 Chiều dài tuyến: 6,57 Km Tuyến2: Tọa độ điểm đầu: X: 0478710; Y: 2184410 Tọa độ điểm cuối: X: 476860; Y: 2184180 Chiều dài tuyến: 2,88 Km Tổng chiều dài các tuyến: 9,45 Km – Xã Hạnh Dịch: Tiến hành 6 đợt đi theo 3 tuyến sau: Tuyến 1: Tọa độ điểm đầu: X: 0478710; Y: 2184410 Tọa độ điểm cuối: X: 476860; Y: 2184180 Chiều dài tuyến: 3,87 Km Tuyến 2: Tọa độ điểm đầu: X: 0478409; Y: 2184989 Tọa độ điểm cuối: X: 0478347; Y: 2184701 Chiều dài tuyến: 1,48 Km Tuyến 3: Tọa độ điểm đầu: X: 0478321; Y: 2185126 Tọa độ điểm cuối: X: 0476691; Y: 2184946 Chiều dài tuyến: 2,43 Km Tổng chiều dài các tuyến: 7,78 Km 3.2.2. Thống kê tần số bắt gặp các dạng tác động xuất hiện tại Khu BTTN Pù Hoạt trên các tuyến khảo sát của 2 xã Hạnh Dịch và Nậm Giải: 3.2.2.1. Xã Nậm Giải: Tuyến 1: – Tần số bắt gặp dấu vết động vật: TT Dấu hiệu bắt gặp Số lượng Tần số/Km 1 Dấu chân, vết Chồn ăn 8 0,82 2 Bắt gặp Chồn 5 1,31 3 Dấu chân Mang 1 6,57 4 Sóc leo cây 23 0,29 5 Hang sóc, tiếng sóc kêu 9 0,73 6 Tiếng các loại chim hót 43 0,15 7 Dấu chân , vết động vật ăn 35 0,19 8 Dấu vết chó sói 1 6,57 9 Tổ ong 2 3,29 10 Dấu vết gà rừng, gà lôi 13 0,51 11 Bắt gặp kỳ nhông 8 0,82 12 Dấu chân Sơn dương 1 6,57 13 Rắn 1 6,57 14 Tiếng khỉ gọi bầy 23 0,29 15 Khỉ chuyền cành 5 1,31 16 Dấu vết lợn rừng 38 0,17 17 Dấu vết, hang Dúi 11 0,60 18 Lông chim 1 6,57 19 Dấu chân trâu bò 11 0,60 20 Hang dúi 1 6,57 21 Tiếng khỉ gọi bầy 2 3,29 22 Chòi lán cũ 2 3,29 23 Dấu chân lợn trâu bò 1 6,57 24 Tiếng sóc chuyền cành 1 6,57 – Tần số hoạt động săn bắt và dựng lán trại: TT Dấu hiệu bắt gặp Số lượng Tần số/Km 1 Bẫy chuột, bẫy động vật 28 0,23 2 Chòi lán cũ 2 3,29 3 Rẫy 1 6,57 – Tần số hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ TT Dấu hiệu bắt gặp Số lượng Tần số/Km 1 Cây bon bo 2 3,29 2 Cây thuốc nam 7 0,94 3 Phong lan 1 6,57 4 Lan kim tuyến 1 6,57 5 Cây tự gãy đổ 1 6,57 Tuyến 2: – Tần số bắt gặp dấu vết động vật: TT Dấu hiệu bắt gặp Số lượng Tần số/Km 1 Dấu vết chân, vết chồn ăn 10 0,29 2 Chồn bay chuyền cành 1 2,88 3 Hang và vết chân Dúi 8 0,36 4 Dấu vết động vật chưa xác định rõ loài 17 0,17 5 Tiếng chim hót 31 0,09 6 Dấu vết gà rừng 7 0,41 7 Dấu vết lợn rừng 23 0,13 8 Dấu chân trâu bò 3 0,96 9 Tắc kè hoa 1 2,88 10 con Don 1 2,88 11 Tiếng khỉ gọi bầy 14 0,21 12 Khỉ chuyền cành 4 0,72 13 Hang sóc 2 1,44 14 Sóc leo cây 6 0,48 15 Bẫy chuột, bẫy động vật 21 0,14 16 Tiếng chim khướu 4 0,72 17 Hang dúi 1 2,88 18 Tiếng động vật chuyền cành 2 1,44 19 Vết động vật ăn 2 1,44 20 Tiếng chim chào mào 3 0,96 – Tần số hoạt động săn bắt và dựng lán trại: TT Dấu hiệu bắt gặp Số lượng Tần số/Km 1 Bẫy chuột, bẫy động vật 19 0,15 – Tần số hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ TT Dấu hiệu bắt gặp Số lượng Tần số/Km 1 Cây thuốc nam 3 0,96 3.2.2.2. Xã Hạnh Dịch Tuyến 1: – Tần số bắt gặp dấu vết động vật: TT Dấu hiệu bắt gặp Số lượng Tần số/Km 1 Dấu động vật ăn 14 0,28 2 Dấu chân động vật 11 0,35 3 Tiếng chim hót 6 0,64 4 Phân động vật 2 1,93 5 Tiếng hót nhiều loài Chim 2 1,93 6 Gà rừng 2 1,93 7 Dấu Lợn rừng ụi đất 3 1,29 8 Lông gà lôi 2 1,93 9 Kỳ nhông 1 3,87 10 Dấu chân lợn rừng 2 1,93 – Tần số hoạt động săn bắt và dựng lán trại: TT Dấu hiệu bắt gặp Số lượng Tần số/Km 1 Bẫy sập cũ 4 0,97 2 Lán cũ 11 0,35 3 Bẫy chuột 6 0,64 4 Bẫy thú 1 3,87 – Tần số hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ TT Dấu hiệu bắt gặp Số lượng Tần số/Km 1 Gốc chặt cũ 17 0,23 2 Dấu vết thu hái măng 3 1,29 3 Dấu đào rễ cây cũ 1 3,87 4 Dấu khai thác Song mây cũ 1 3,87 5 Dấu khai thác gỗ cũ 1 3,87 6 Quần thể Táu 12 0,32 7 Sâm cau 1 3,87 8 Lan rừng 8 0,48 9 Dây toái 3 1,29 10 Quần thể Nứa 1 3,87 11 Cây thuốc nam 1 3,87 12 Cây Lan kim tuyến 1 3,87 13 Quần thể Nấm 1 3,87 14 Trạng thái dây leo điển hình 1 3,87 15 Quần thể cây Bồ quyết toái 1 3,87 16 Người dân lấy lá dong 1 3,87 17 Người dân lấy măng 8 0,48 18 Lấy củi 1 3,87 19 Khai thác cây thuốc 1 3,87 Tuyến 2: – Tần số bắt gặp dấu vết động vật: TT Dấu hiệu bắt gặp Số lượng Tần số/Km 1 Dấu chân lợn rừng 6 0,25 2 Tiếng chim hót 5 0,30 3 Dấu chân động vật 6 0,25 4 Động vật ăn quả 4 0,37 5 Gà rừng 2 0,74 – Tần số hoạt động săn bắt và dựng lán trại: TT Dấu hiệu bắt gặp Số lượng Tần số/Km 1 Lán cũ 6 0,25 2 Bẫy chuột 3 0,49 3 Bẫy sập cũ 4 0,37 4 Bẫy sóc 1 1,48 5 Bẫy thú 1 1,48 – Tần số hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ TT Dấu hiệu bắt gặp Số lượng Tần số/Km 1 Gốc chặt cũ 18 0,08 2 Khai thác măng 4 0,37 3 Khai thác rễ cây 2 0,74 4 Cây đổ cũ 9 0,16 5 Đào rễ chay 2 0,74 6 Cây đỗ mới 1 1,48 1 Quần thể Táu xanh 2 0,74 2 Nấm 5 0,30 3 Lan rừng 3 0,49 4 Toái 3 0,49 5 Quần thể Táu mật 5 0,30 6 Xoài rừng nhiều quả 1 1,48 7 Lông gà lôi vằn 1 1,48 8 Lấy củi 1 1,48 9 Khai thác cây thuốc 2 0,74 10 Mộc nhĩ 1 1,48 Tuyến 3: – Tần số bắt gặp dấu vết động vật: TT Dấu hiệu bắt gặp Số lượng Tần số/Km 1 Dấu chân động vật 6 0,40 2 Dấu động vật ăn quả 5 0,49 3 Dấu Lợn rừng ụi đất 7 0,35 4 Gà rừng 2 1,21 5 Tiếng chim hót 4 0,61 6 Dấu động vật 1 2,43 7 Dấu đào rễ cây cũ 1 2,43 8 Dấu động vật đào bới 1 2,43 9 Dấu con dúi ăn 1 2,43 10 Lông chim đại bàng 1 2,43 – Tần số hoạt động săn bắt và dựng lán trại: TT Dấu hiệu bắt gặp Số lượng Tần số/Km 1 Bẫy cũ 9 0,27 2 Lán ở cũ 6 0,40 3 Bẫy chuột 3 0,81 – Tần số hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ TT Dấu hiệu bắt gặp Số lượng Tần số/Km 1 Gốc chặt cũ 10 0,24 2 Khai thác nứa cũ 2 1,21 3 Cây đỗ cũ 13 0,19 4 Dấu khai thác Song mây cũ 1 2,43 5 Khai thác măng 4 0,61 6 Dấu khai thác gỗ cũ 2 1,21 7 Nhánh lan rừng 1 2,43 8 Quần thể Toái 4 0,61 9 Quần thể dây leo 3 0,81 10 Lan rừng 3 0,81 11 Quần thể táu 10 0,24 12 Quần thể nứa 5 0,49 13 Quần thể cây Bồ quyết toái 1 2,43 14 Quần thể nấm 2 1,21 15 Cây thuốc nam 1 2,43 16 Lan kim tuyến 1 2,43 17 Dấu khai thác cây thuốc 2 1,21 3.3. Các mối đe dọa tới sự suy giảm và mất rừng ghi nhận trên các dải cắt ngang tại Khu BTTN Pù Hoạt Dựa trên kết quả của các tuyến, các ô tiêu chuẩn điều tra ở bảng số liệu trên. Chúng Tôi xin đưa ra các kết quả ban đầu liên quan đến các mối đe dọa chính được ghi nhận dọc các tuyến điều tra trong khu bảo tồn Pù Hoạt. Độ phong phú được xác định bởi tần số gặp các dấu hiệu tác động dọc theo tuyến khảo sát. 3.3.1. Tần số gặp các mối đe dọa tại khu BTTN Pù Hoạt Qua kết quả khảo sát trên 5 tuyến điều tra giám sát tại 2 xã Nậm Giải và Hạnh Dịch cho kết quả tần số các mối đe dọa tại khu BTTN Pù Hoạt như sau: TT Loại tác động Số lượng Tần số Tần số/km 1 Dấu vết khai thác gỗ cũ 48 25,95 0,36 2 Lán trại cũ, mới 25 13,51 0,69 3 Bẫy mới, cũ 76 41,08 0,23 4 Rẫy 1 0,54 17,23 5 Khai thác lâm sản phụ 35 18,92 0,49 6 Chăn thả gia súc Tổng số 185 Qua công tác tuần tra đánh giá hoạt động giám sát đa dạng sinh học trên 5 tuyến điều tra tại địa bàn 2 xã Nậm Giải và Hạnh Dịch năm thứ 2 cho thấy có 5 dấu hiệu tác động của người dân được xác định có ở vùng nghiên cứu. Trong đó nhiều nhất là tình trạng đặt bẫy của người dân, mặc dù đây chỉ là các bẫy nhỏ nhưng có rất nhiều loài sẽ bị mắc bẫy và chết nếu bẫy không được kiểm tra thường xuyên. Trung bình trên mỗi km thực địa gặp 0,25 lần người dân đặt bẫy, chiếm 43,31 % so với các loại dấu hiệu tác động khác. Tiếp theo là tình trạng khai thác gỗ số lần gặp dấu hiệu là 46 lần, trên mỗi km thực địa gặp 0,91 lần dấu hiệu chặt gỗ, chiếm 29,30%. 3.4. Các mối đe dọa đến sự mất rừng và suy thoái rừng ghi nhận tại Khu BTTN Pù Hoạt Qua khảo sát điều tra, giám sát đa dạng sinh học tại khu BTTN Pù Hoạt trên 5 tuyến tại 2 xã Hạnh Dịch và Nậm Giải. Nhận thấy các mối đe dọa đến sự mất rừng và suy thoái rừng tại Khu BTTN Pù Hoạt hiện nay đó là: Người dân sinh sống tại tại khu vực gần rừng vào rừng khai thác gỗ về làm nhà và mục đích thương mại. Tình trạng xâm canh, xâm cư, đốt nương làm rẫy của người dân tại các khu rừng thuộc vùng đệm ngày càng gia tăng. Nhu cầu khai thác lâm sản phụ nhiều như thu hái các loài Thiên niên kiện, măng… Mở đường tuần tra biên giới vào các khu rừng đặc đụng, các công trình nhà máy thủy điện. Sự gia tăng dân số cũng là vấn đề ảnh hưởng đến tình trạng xâm cư của người dân. 3.5 So sánh và đánh giá kết quả tần số bắt gặp các mối đe dọa tại khu BTTN Pù Hoạt năm 2015 và năm 2016. TT Loại tác động Số lượng Tần số Tần số/km Năm 2015 Năm 2016 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2015 Năm 2016 1 Dấu vết khai thác gỗ cũ 19 48 21,84 25,95 0,91 0,36 2 Lán trại cũ mới 12 25 13,79 13,51 1,44 0,69 3 Bẫy cũ mới 37 76 42,53 41,08 0,47 0,23 4 Rẫy 1 1 1,15 0,54 17,23 17,23 5 Khai thác lâm sản phụ 16 35 18,39 18,92 1,08 0,49 6 Chăn thả gia súc 2 2,30 8,62 Tổng số 87 185 Trải qua 2 năm tuần tra đánh giá hoạt động giám sát đa dạng sinh học trên 5 tuyến điều tra tại địa bàn 2 xã Nậm Giải và Hạnh Dịch.Với kết quả số liệu điều tra trên, chúng tôi nhận thấy tần số bắt gặp các mỗi đe dọa có có những thay đổi, Cụ thể như sau: – Tổng số lượng bắt gắp các mỗi đe dọa trên tuyến điều tra đã tăng lên một cách rõ rệt. Cụ thể năm 2015 có tổng số 87 lần bắt gặp, năm 2016 có tổng số 185 lần bắt gặp tăng 2,126 lần so với năm trước. Cụ thể: + Hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ: năm 2016 điều tra trên 5 tuyến số lượng bắt gặp dấu vết khai thác gỗ cũ, cũng như dấu kéo gỗ là 48 lần với tần số 0,36 km/lần bắt gặp, tần số gặp cao hơn so với năm 2015 tổng số lần bắt gặp 19 lần với tần số 0,91km/1 lần bắt gặp và không phát hiện dấu vết khai thác gỗ mới. Tuy việc phát hiện dấu vết khai thác cũ nhiều hơn, tuy nhiên đây không phải là sự khai thác mới, mà là quá trình tiến hành công tác giao khoán bảo vệ rừng, làm sạch rừng, các đối tượng nhậ khoán thu gom các loại gỗ còn sót lại tại vùng giao khoán, giao nộp cho đơn vị, tránh hiện tượng người dân tự tiện vào rừng khai thác gỗ mót, gỗ tận dụng trái phép. Đây cũng là cách sử lý hiệu quả giúp đơn vị thực hiện và kiểm soát tốt hơn các tác động của người dân lợi dụng việc tận thu tận dụng để khai thác gỗ mới, một cách trái phép. Để tiếp tục thực hiện tốt công tác quản lý tài nguyên rừng tại Khu BTTN Pùoạt, Đơn vị cần làm tốt hơn nhữ công tác tuần tra, truy quét tại các điểm nóng về khai thác, đồng thời song hành với đó chúng ta phải thường xuyên chốt chặn các khu vực trọng điểm, đầu các cửa rừng, phối kết hợp các đơn vị đóng trên địa bàn cùng các hộ tham gia nhận khoán bảo vệ rừng trong công tác bảo vệ rừng. Tiến hành tuyên truyền sâu rộng tới mợi người dân, mọi tầng lớp tầm quan trọng của rừng, các chủ trương chính sách Đảng, Pháp luật nhà nươc về bảo vệ và phát triển rừng. + Các hoạt động khai thác lâm sản phụ, dựng lán trại và đặt bẫy năm 2016 cũng tăng lên cho thấy nhu sử dụng lâm sản phụ và hoạt động săn bắt của người dân ngày càng cao, mật độ người dân vào rừng lấy các loại lâm sản như măng, các cây thuốc… là cao. Do vậy để đảm bảo ổn định sinh kế cho người dân sinh sống gần rừng, chúng ta cần phải có những giải pháp hiệu quả, đồng thời tạo sinh kế bền vững cho người dân, thường xuyên tuyên truyền cho người dân về pháp luật bảo vệ và phát triển rừng, góp phần nâng cao nhận thức và hiểu biết cho người dân trong khai thác, sử dụng cũng như bảo tồn. Cùng với đó tổ chức những mô hình nuôi trồng những loài có khả năng thích ứng với điều kiện chăn nuôi trong gia đình, các loại cây, con vừa mang lại giá trị kinh tế vừa góp phần bảo tồn nguồn gen như heo rừng, nhím, kỳ đà… trồng nhiều loại cây thuốc như kim tiền thảo, tre lấy măng, mây, tre trúc các loại trên đất rừng sản xuất, để đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của người dân. Ngoài ra, hiện nay nguồn dược liệu quý tập trung ở các khu rừng đặc dụng của khu bảo tồn thiên nhiên chủ yếu là phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học. Sẽ là lãng phí nếu các nguồn dược liệu này không có một chiến lược khai thác hợp lý để phục vụ cuộc sống con người. Cần có chính sách mở cửa, tạo cơ chế mở trong việc khai thác sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên. – Trong các loại tác động, duy nhất có tác động chăn thả gia súc có hiện tượng giảm và không có dấu hiệu, điều này chứng tỏ việc quy hoạch khu vực chăn nuôi và ý thức người dân trong vùng đã có chuyển biến thông qua quá trình tuyên truyền. 3.6. Các loài quý hiếm và có nguy cơ xâm hại ghi nhận trên các tuyến khảo sát tại Khu NTTN Pù Hoạt. 3.6.1 Về thực vật – Táu mật: Tên Khoa học: Vatica cinerea King, 1893 (CCVN, 1:553) Tên tiếng Việt: Táu nước; Táu mật; Làu táu Tên khác: V. harmandiana Pierre ex Laness. 1886 (FGI, 1: 390; CCNVN, 1: 320).; Phân bố: Là loài phổ biến tại Khu BTNT Pù Hoạt xuất hiện ở độ cao 500-1200m, thường nằm trong kiểu rưng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi trung bình. Trên 5 tuyến khảo sát ghi nhận loài xuất hiện trên 4 tuyến điều tra với số lượng nhiều, thường nằm tập trung rừng thứ sinh, rừng nguyên sinh thường xanh. Số lần bắt gặp được loài ghi nhận trên các tuyến với tần số xuất hiện như sau: tại xã Nậm Giải tuyến 1 (6,57 lần quan sát/km), tuyến 2 (2,88 lần quan sát/km), xã Hạnh Dịch tuyến 2 (0,30 lần quan sát/km), tuyến 3 (0,81lần quan sát/km). Đặc điểm: Cây gỗ lớn,Vỏ cây màu xámlúc bong mảng có các vòng tròn hình tổ ông mặt quỷ xuất hiện trên thân cây. Các lá kèm sớm rụng, nhỏ; phiến lá như da, gân lá hình lông chim, các gân tam cấp dạng mắt lưới dễ thấy, mép lá nguyên. Hoa mọc ở nách lá hay đầu cành dạng chùy, thường có lông tơ xòe hình sao. Ống tràng ngắn; các lá đài lợp hẹp, cân đối hay gần cân đối.Cánh hoa màu trắng, thường với nét màu hoa cà, có lưỡi bẹ, lớn, rụng tách biệt.Nhị hoa 15; chỉ nhị không đều, mập; bao phấn hình elipxoit; phần phụ liên kết ngắn, tù. Bầu nhụy hình trứng, có lông tơ; vòi nhụy hình trụ, ngắn; núm nhụy hình đầu hay nón, nhô lên, nguyên hay có răng cưa. Quả kiên hình cầu hay elipxoit, chứa 1- 2 hạt; các múi của đài hoa đều hay không đều, với 2 múi phát triển thành cánh dài. Hình ảnh Cây Táu mật tại rừng Pù Hoạt – Sến mật: Tên Khoa học: Madhuca pasquieri Tên tiếng Việt: Sến mật Tên khác: Sến mật, sến dưa, sến giũa, sến ngũ điểm, sến năm ngón, chên Phân bố: Loài Sến mật thường phân bố ở sinh cảnh rừng kín là rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới trung bình. Qua 5 tuyến khảo sát cho thấy sự xuất hiện của loài được ghi nhận tại xã Hạnh Dịch trên tuyến 2 với 1 lần xuất hiện với tần suất (1,48 lần quan sát/km) với số lượng mật độ nhiều. Đặc điểm: Là một loài thực vật thuộc họ Hồng xiêm.Cây sến phân bố ở Việt Nam và Trung Quốc.Đây là loài cây đang bị đe dọa môi trường sống. Sến mật là cây gỗ lớn, có thể cao 30m đến 35m. Phiến lá hình trứng ngược hay hình bầu dục dài, dài 6–16 cm, rộng 2–6 cm, đầu tù và có mũi nhọn rộng. Cụm hoa ở nách lá các lá trên, thường gồm 2-3 hoa; hoa có tràng nhẵn màu vàng. Quả hình bầu dục hay gần hình cầu, dài 2,5–3 cm; hạt hình trứng Cây sến mật sinh trưởng chậm, ưa đất tốt và ẩm, ra hoa vào tháng 1-3; có quả chín tháng 11-12 Cây tái sinh bằng hạt và chồi – Thiên niên kiện: Tên Khoa học: Homalomena occulta (Lour) Schott Tên tiếng Việt: Thiên niên kiện Tên khác: Sơn thục, Thần phục Phân bố: Loài này thường sống thành từng nhóm. Chúng thường phân bố ở các sinh cảnh rừng thứ sinh có độ che phủ nhiều và có độ ẩm cao. Bắt gặp của loài được ghi nhận tại tuyến khảo sát tuyến số 3 Hạnh Dịch tại sinh cảnh rừng thứ sinh, tần suất bắt gặp tại tuyến này là 1,22 lần quan sát/km, tuyến số 2 Nậm Giải tần suất bắt gặp tại tuyến này là 1,44 lần quan sát/km. Đặc điểm: là loài thực vật nằm trong chi Homalomena, chi có hoa trong họ Ráy (Araceae).Các loài trong chi này là cây lâu năm, mọc thành bụi với lá thường xanh hình tim hoặc hình mũi tên. Hoa nhỏ và không có cánh hoa, bao bọc trong mo hoa thường hơi xanh và ẩn trong các lá. Thiên niên kiện là cây cỏ cao 50-60 cm, sống nhiều năm nhờ thân rễ. Thân rễ to, cứng chắc, đường kính 3-4 cm, mặt ngoài màu nâu đen, tiết diện tròn, có mùi thơm, khi bẻ ngang bên trong màu trắng ngà sau chuyển vàng nâu rồi nâu sậm, có nhiều xơ lởm chởm như bàn chải, màu trắng sau chuyển màu vàng ngà. Lá đơn, mọc từ thân rễ, xếp so le. Phiến lá hình đầu tên, ngọn lá có đuôi, dài 22-26 cm, rộng 20-24 cm, nhẵn ở cả hai mặt, mặt trên màu xanh lục sậm láng bóng hoặc đôi khi vàng xanh, mặt dưới màu nhạt hơn; bìa lá nguyên, hơi gợn sóng; gân lá hình lông chim, có 1 đôi gân gốc và 5-6 đôi gân bên nổi rõ ở mặt dưới; mỗi bên gân gốc gồm 3 gân họp vào nhau; gân gốc và gân bên đều cong hướng về ngọn lá. Cuống lá dài 35-55 cm, xốp, màu xanh lục hơi nâu, hơi lõm ở mặt trên; ½ phía gốc cuống lõm sâu ở mặt trên thành hình lòng máng tạo thành 2 cánh mỏng ở hai bên mép; gốc cuống màu hồng nhạt và nở rộng ôm vào nhau. Cụm hoa ở nách lá, 8 bông mo chia làm 2 cụm nhỏ, lúc non có hình thoi, được mang bởi một cuống dài 7-10 cm; dưới gốc mỗi bông mo có một phiến mỏng hình bầu dục thuôn dài, đầu nhọn, dài 6 cm, ngang 1 cm, mặt ngoài có 2 nếp gấp dọc nổi rõ, màu hồng nhạt phía gốc và đậm về phía ngọn; cuống bông mo hơi xốp, mặt ngoài láng, phía gốc màu hồng nhạt, phía ngọn màu xanh lục. Mo lúc đầu bọc kín bông nhưng sau đó mở ra bằng một đường dọc nên có dạng thuyền, dài 4-5 cm, màu xanh lục, mặt ngoài láng, phần gốc phớt hồng. Bông có nhiều chất dính, dài 35-42 mm, đoạn 2mm ở gốc không mang hoa, đoạn mang hoa có đường kính 7 mm ở gốc và thuôn nhọn về phía ngọn, đoạn hoa cái ở dưới dài 13-15 mm, đoạn hoa đực ở trên dài 25 mm. Hoa rất nhỏ. Hoa đực trần, xếp khít vào nhau; nhị 3, dính ở bao phấn thành một khối hình đa giác, màu trắng, khi già chuyển vàng rồi đen; chỉ nhị rất ngắn, gần như không có; bao phấn 2 ô, xếp song song, hướng ngoài, nứt dọc, đính gốc; hạt phấn rời, màu vàng nhạt, hình gần tròn hay hình bầu dục, có rãnh ở giữa, đường kính 12,5-17,5 µm. Hoa cái trần; gốc mỗi hoa cái có nhị lép dài khoảng 2/3 hoa, màu trắng đục, dạng khối nhỏ, hẹp bên dưới, nở rộng bên trên; bầu noãn hình trụ, màu trắng, dài 2 mm, ngang 1 mm, nhẵn; lá noãn 3-4, dính nhau tạo bầu trên 3-4 ô, mỗi ô nhiều noãn đính suốt chiều dọc của thai tòa, đính noãn trung trụ; noãn thuôn dài, màu trắng; vòi nhụy rất ngắn, màu xanh lục nhạt; đầu nhụy hình dĩa, không loe rộng, màu nâu nhạt. Quả mọng, hình gần cầu, chứa nhiều hạt.Hạt có nội nhũ, mầm thẳng. Hình ảnh Cây Thiên niên kiện – Sa mu dầu: Tên Khoa học: Cunninghamia konishii Hayata Tên tiếng Việt: Sa mu dầu Tên khác: Sa mộc dầu, Lông Lênh Phân bố: Trên tuyến khảo sat Loài Sa mu dầu xuất hiện tại cuối tuyến 1, xã Nậm Giải, Ở đây ghi nhận được một quần thể Sa mu dầu với số lượng cây đo đếm được là 27 cây, đường kính bình quân 1m, phân bố ở độ cao 1400m và nơi đầu nguồn suối Huồi Dừm (đỉnh Pha Cò Mự), có độ dốc 40-450. Ngoài ra Loài Sa mu dầu còn phân bố tại các khu vực thuộc xã Hạnh Dịch như Tiểu khu 61 khoảnh 2 (Khu vực Suối Huồi Hạp); Tiểu khu 60 khoảnh 4, 5 (Khu vực Suối Huồi Chạm); Tiểu khu 59 khoảnh 11, 15, 18, 19, 22 (Khu vực Suối Huồi Bành Thọng). Đặc điểm chung:Sa mu dầu (Cunninghamia konishii Hayata) thuộc họ Bụt mọc (Taxodiaceae) là cây gỗ to, thường xanh, có thể cao đến hơn 30 m, đường kính thân đến hơn 80cm, hình tháp. Lá mọc xoắn ốc rất dày đặc, có gốc vặn do đó xếp ít nhiều thành 2 dãy, hình dải, dài 2 – 3cm, rộng 0,25cm, thót thành mũi tù, không cứng ở đầu, hơi có răng cưa ở hai mép lá và có 2 dải lỗ khí chủ yếu ở mặt dưới. Sa mu dầu là loài thực vật cổ còn sót lại qua các biến động địa chất phức tạp, thường gặp ở độ cao 960- 2000m hỗn giao với các loài lá rộng (dẻ, sồi) và lá kim khác như Pơ mu (Fokienia hodginsii), Kim giao núi đất (Nageia wallichiana) và thông nàng (Dacrycarpus imbricatus). Tái sinh hiếm, thường gặp ở nơi trống, bãi sạt lở bên vực, suối. Cây được thấy rải rác thành các đám nhỏ trong rừng nguyên sinh rậm thường xanh hỗn giao nhiệt đới gió mùa núi thấp hoặc núi trung bình (nhiệt độ trung bình năm 13-19oC, lượng mưa trên 1500mm) trên đất phong hóa từ granit hoặc các đá mẹ silicat khác. Sa mu dầu là một loài ít sâu bệnh. Sa mu dầu nảy chồi vào tháng 5-6 và 9-10, rụng lá vào cuối tháng 10-11 Thời điểm xuất hiện mầm hoa vào cuối tháng 3 đầu tháng 4, nở hoa vào tháng 5-6. Thời điểm có quả non vào cuối tháng 3, quả già vào tháng 10-11 và quả chín vào tháng 11-12 khi mầu quả chuyển từ xanh sang màu nâu thẫm. Thời điểm có hạt non vào thang 4 hạt già vào 10- 11, hạt rơi rụng vào cuối tháng 12 năm sau.Phương thức hạt rơi rụng quả rụng trước vẩy quả rụng sau. Hình ảnh cây Sa mu dầu tại Pù Hoạt – Lan kim tuyến: Tên Khoa học: Anoectochilus setaceus Tên tiếng Việt: Lan kim tuyến Tên khác: Lan kim tuyến lông cứng, Kim tuyến, Kim tuyến tơ, Giải thủy tơ, Lan gấm, Cỏ nhung, Kim cương Phân bố: Khu BTTN Pù Hoạt thảm thực vật nơi có loài Lan kim tuyến phân bố thuộc các kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới và kiểu rừng kín lá rộng thường xanh á nhiệt đới núi thấp. Loài Lan kim tuyến này được ghi nhận tại tuyến điều tra số 3 thuộc xã Hanh Dịch. Tại đây với tần suất (2,43 lần quan sát/km), tuyến số 1 Nậm Giải với tần suất bắt gặp là (6,57 lần quan sát/km). Như vậy hiện nay với công dụng của loài Lan kim tuyến và sự khai thác nhiều của người dân, dẫn tới sự phân bố của loài ngày càng hẹp và khan hiếm hơn. Đặc điểm: Là một loài thực vật điển hình của chi cùng tên (Anoectochilus ). Đây là một loài lan đất có mặt ở Vân Nam, Lào và Việt Nam. Chúng sinh sống trên các triền núi đá vôi, dọc theo khe suối, dưới các tán cây to trong rừng ẩm ở độ cao 500-1.600 mét. Cây ưa độ ẩm cao và ưa bóng râm, kỵ ánh sáng, yêu cầu đất nhiều mùn, tơi xốp, thoáng khí. Cây cao 10–20 cm, thân màu tím, mọng nước, phần cây non có nhiều lông mềm, mang 2-6 lá mọc cách, xòe trên mặt đất. Lá hình trái xoan hoặc hình trứng, gần tròn ở gốc và nhọn ở đầu, dài 3–4 cm và rộng 2–3 cm, trên mỗi chiếc lá có 3-5 sọc gân dọc. Mặt trên màu nâu sậm có vệt vàng ở giữa và mạng gân màu hồng nhạt, mặt dưới màu nâu nhạt.Cuống lá dài 2–3 cm, gốc cuống tạo thành bẹ lá ôm lấy thân. Hoa mọc thành từng cụm, với cụm hoa dài 10–15 cm, mang 5-10 hoa màu hồng phủ lông đỏ, dài 2,5 cm với cánh môi dài 1,5 cm mang 6-8 ria mỗi bên, đầu môi chẻ thành 2 thùy thuôn đầu tròn. Bầu dài 13 mm, có lông thưa.Cây ra hoa vào tháng 10-12 và mùa quảchín vào tháng 12 tới tháng 3 năm sau.Có thể sinh sản vô tính chủ yếu bằng chồi và thân rễ. Trong y học, Lan kim tuyến được sử dụng làm thuốc trị lao phổi, ho do phế nhiệt, phong thấp, đau nhức khớp xương, chấn thương, viêm dạ dày mãn tính, viêmkhí quản, viêm gan mãn tính, suy nhược thần kinh; giúp tăng cường sức khoẻ, làm khí huyết lưu thông, có tính kháng khuẩn. Thành phần hóa học của lan kim tuyến bao gồm các chất như quercetin, isoharmnetin-3-O-beta-D-glucopyranosid, kaempferol-3-O-beta-D-glucopyranosid, 5-hydroxy-3′-4′-7′-trimethoxyflavonol-3-O-beta-D-rutinosid và isorhamnetin-3-O-beta-D-rutinosid. Với đặc tính quý giá về dược liệu, lan kim tuyến được thị trường thu mua với giá khá cao, hơn 120.000 đồng VN/kg. Do số lượng ít, mọc rải rác và còn bị khai thác quá nhiều (với hình thức khai thác chặt cả cây) nên cây đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam năm 2007 theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP, xếp hạng EN A1a,c,d và bị cấm khai thác sử dụng mục đích thương mại. Ảnh cây Lan Kim tuyến điều tra ĐDSH 2016. 3.6.2 Về động vật – Sơn dương: Tên khoa học: Capricornis milneedwardsii maritimus Tên Việt Nam: Sơn dương Đông Dương Tên khác: sơn dương hay linh dương, dê rừng Sơn dương (Capricornis milneedwardsii maritimus): là loài động vật thuộc họ trâu bò, thuộc Bộ ngón chẵn. Sơn dương Đông Dương là một phân loài của Sơn dương lục địa thuộc Chi Tì linh, chúng phân bố đặc hữu ở vùng Đông Nam Á chủ yếu là bán đảo Đông Dương, ở các quốc gia như: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan và Miến Điện. Ở Việt Nam, loài này được gọi đơn giản là sơn dương hay dê rừng, được người Mường gọi là nai đá, người Thái gọi tu dương, người Nùng gọi là tu kết. Số lượng của chúng hiện nay ngày càng suy giảm do do săn bắn và bẫy bắt thường xuyên, môi trường sống bị thu hẹp và chia cắt. Loài này đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam và thuộc diện quý hiếm nguy cấp. Phân bố trên tuyến giám sát đa dạng sinh học: Qua khảo sát trên các tuyến điều tra ghi nhận có dấu vết chân và phân của loài Sơn Dương tại cuối tuyến 1, xã Nậm Giải dấu chân xuất hiện tại khu vực phân bố của quần thể cây Sa mu dầu. Cho thấy Sơn Dương phân bố ở khu vực núi độ cao thấp và được tìm thấy ở các dông núi cao. Sinh cảnh phân bố của loài Sơn Dương thường bắt gặp ở khu vực rừng kín thường xanh lá rộng, rừng nguyên sinh có độ cao 1000-1200 mét. Tại khu BTTN Pù Hoạt, Sơn dương ghi nhận phân bố ở các sinh cảnh núi đá vôi hoặc các núi đá có độ dốc cao.Mỗi cá thể thường sống riêng lẻ trong một khu vực nhất định cách biệt với cá thể khác, khu vực sống của chúng thường ở trên các núi đá có các thác nước. Hình ảnh hàm răng Sơn dương tại Pù Hoạt – Lợn rừng: Lợn rừng (Sus spp) Phân bố: Lợn rừng có phân bố rất rộng tại Khu BTTN Pù Hoạt.Qua khảo sát 5 tuyến điều tra đều ghi nhận dấu vết của Lợn rừng, nhận thấy phân bố của loài của loài là rất phổ biến. Tần số bắt gặp dấu vết của lợn rừng tại các tuyến khảo sát năm 2016: Tuyến khảo sát Dấu hiệu bắt gặp Số lượng quan sát Tần số/ km Tuyến 1 xã Nậm Giải Dấu vết lợn rừng 38 0,17 Tuyến 2 xã Nậm Giải Dấu vết lợn rung 23 0,13 Tuyến 1 xã Hạnh Dịch Dấu chân lợn rừng, ụi đất 5 0,77 Tuyến 2 xã Hạnh Dịch Dấu chân lợn rừng 6 0,25 Tuyến 3 xã Hạnh Dịch Dấu lợn rừng ụi đất 7 0,35 Đặc điểm: Đây là loại lợn sống ở rừng rất hung giữ và khó thuần hóa. Lợn rừng Việt Nam thuần chủng có thân hình cân đối, nhanh nhẹn, di chuyển linh hoạt, mình hơigầy, dài đòn, lưng thẳng, bụng thon, chân dài, nhỏ và móng nhọn, cổ dài, đầu nhỏ, mõm dài và nhọn, tai nhỏ vểnh và thính, mũi rất thính và khỏe, da lông màu hung nâu, hung đen hay xám đen, một gốc chân lông có ba ngọn, lông dọc theo sống lưng và cổ dày, dài và cứng hơn. Vai chúng thường cao hơn mông, đuôi nhỏ, ngắn, chỉ dài đến kheo. Con đực có răng nanh phát triển, con cái có 2 dãy vú, mỗi dãy 5 núm vú phát triển và nổi rõ. Một số con có mõm dài, có da dày, lông nâu bạc, lúc nhỏ có sọc dưa, chân cao, có lông bờm, thân mảnh, ở tuổi trưởng thành lợn rừng có răng nanh, ba lông chụm. Chúng có sọc vàng hơn, lông lơ phơ, mọc thẳng đứng, tai nhọn bé như tai chuột, thân lép, mông tóp, chân cao, móng chân chụm. Khi trưởng thành lợn rừng Việt Nam còn có thêm đặc điểm mới là lông bờm phát triển hơn, lông cứng, dựng đứng. Con lợn rừng mẹ thường nhỏ, thường chỉ từ 35 – 50 kg, mõm dài và nhọn, đầu nhỏ, tai nhỏ, cổ dài thắt ngẫng, không có má, đẻ ít con, lợn chậm lớn, màu lông thường là hung đen. Hình ảnh: Dấu vết của Lợn rừng ủi khi kiếm thức ăn Hình ảnh: Vết chân lợn rừng – Cầy: Họ Cầy (danh pháp khoa học: Viverridae) (con chồn) bao gồm 32 loài cầy, cầy genet và cầy linsang. Chúng là các động vật nhỏ, thân hình mềm mại, chủ yếu sống ở trên cây, thuộc về bộ Ăn thịt. Về bề ngoài nói chung thì chúng giống như mèo, nhưng mõm rộng và thường là nhọn, trông giống nhưrái cá hay cầy mangut. Chiều dài của chúng, khi trừ đi phần đuôi, là khoảng 40–100 cm (17-39 inch) và cân nặng khoảng 1–5 kg.Đuôi của chúng dài từ 12–90 cm (5-35 inch). Tuổi thọ 5-15 năm. Hình ảnh: Dấu vết ăn quả của loài Chồn tại Pù Hoạt – Gấu: Ở Việt Nam nói chung và tại Khu BTTN Pù Hoạt nói riêng, gấu gồm có 2 loại Gấu chó và Gấu ngựa. + Gấu ngựa (Ursus thibetanus hay Ursus tibetanus), còn được biết đến với tên gọi Gấu đen Tây Tạng, Gấu đen Himalaya, hay gấu đen châu Á, là loài gấu kích thước trung bình, vuốt sắc, màu đen với hình chữ “V” đặc trưng màu trắng hay kem trên ngực. Loài gấu này có quan hệ họ hàng rất gần với gấu đen Mỹ, người ta tin rằng chúng có chung nguồn gốc tổ tiên ở châu Âu. + Gấu chó (danh pháp hai phần: Helarctos malayanus, từ đồng nghĩa: Ursus malayanus), được tìm thấy chủ yếu trong các rừng mưa nhiệt đới ở khu vực Đông Nam Á. Gấu chó có chiều dài khoảng 1,2 m chiều cao khoảng 0,7 m do đó chúng là loài nhỏ nhất của họ Gấu. Nó có đuôi ngắn, khoảng 3–7 cm và trung bình nặng không quá 65 kg.Gấu chó đực nặng hơn một chút so với gấu cái. Đặc điểm: Không giống như các loài gấu khác, lông của chúng ngắn và mượt. Điều này có lẽ là do môi trường sống của chúng là những vùng đất thấp nóng ẩm. Màu lông của chúng là đen sẫm hay nâu đen, ngoại trừ phần ngực có màu vàng-da cam nhạt có hình dạng giống như móng ngựa hoặc hình chữ U. Màu lông tương tự có thể tìm thấy xung quanh mõm và mắt. Gấu chó có vuốt có dạng lưỡi liềm, tương đối nhẹ về khối lượng. Chúng có bàn chân to với gan bàn chân trần, có lẽ là để hỗ trợ việc leo trèo. Chân chúng hướng vào trong nên bước đi của chúng giống như đi vòng kiềng, nhưng chúng là những con vật leo trèo giỏi.Chúng có tai ngắn và tròn, mõm ngắn. Là một con vật ăn đêm là chủ yếu, gấu chó thích tắm nắng hay nghỉ ngơi về ban ngày trên các cành cây to cách mặt đất khoảng 2-7 mét. Vì chúng tiêu hao nhiều thời gian ở trên cây, gấu chó đôi khi làm tổn thất nặng nề cho các loại cây trồng.Chúng được coi là những kẻ phá hoại dừa và ca cao trong các đồn điền. Tập tính này là nguyên nhân làm giảm số lượng của quần thể gấu chó cũng giống như việc săn bắn để lấy lông và mật để sử dụng trong y học Trung Hoa. Thức ăn của gấu chó dao động rất rộng và bao gồm các động vật có xương sống nhỏ như thằn lằn, chim, hay các loài động vật có vú khác, cũng như hoa quả,trứng, mối, ngọn non cây dừa, mật ong, quả mọng, chồi cây, côn trùng, rễ cây, quả của ca cao hay dừa. Hàm răng đầy sức mạnh của chúng có thể phá vỡ những quả dừa. Phần lớn thức ăn của gấu chó là nhờ vào khứu giác của chúng vì mắt của chúng rất kém. Phân bố: Bắt gặp dấu vết thông qua vết cào thân cây tại tuyến số 1 xã Hạnh Dịch với 1 lần ghi nhận có tần suất 3,87 lần quan sát/kmvà dấu chân để lại trên tuyến số 1 xã Nậm Giải được ghi nhận 1 lần với tần suất 6,57 lần quan sát/km. Hình ảnh thân cây bị Gấu cào – Khỉ Cộc: Khỉ cộc (danh pháp: Macaca arctoides), Tên khác: khỉ mặt đỏ Là loài khỉ phân bố ở Nam Á và Đông Nam Á.Tại Ấn Độ, khỉ cộc có ở phía nam sông Brahmaputra, thuộc vùng đông bắc nước này. Khỉ cộc có chiều dài thân là 485–700 mm, dài đuôi là 30–50 mm, khối lượng từ 7 đến 18 kg. Bộ lông màu vàng nhạt, xám nhạt hoặc đen. Phân bố tại Pù Hoạt: Khảo sát tuyến điều tra giám sát đa dạng sinh học cho thấy sự xuất hiện của loài Khỉ cộc qua dấu hiệu bắt gặp đó là tiếng kêu của khỉ chuyền cây, dấu vết khỉ kiếm thức ăn. Chúng được ghi nhận trên các tuyến điều tra có sinh cảnh rừng thứ sinh và nguyên sinh có độ che phủ cao, phân bố trên độ cao 100-1300 mét, nơi có địa hình hiểm trở, độ dốc lớn có nhiều vách đá. Kết quả ghi nhận các dấu vết được thể hiện qua bảng số liệu dưới đây: Tần số bắt gặp khỉ và dấu vết của khỉ tại các tuyến khảo sát: Tuyến khảo sát Dấu hiệu bắt gặp Số lượng quan sát Tần số/ km Tuyến 1 xã Nậm Giải Khỉ tìm bới mồi Tiếng khỉ chuyền cây 1 1 6,57 6,57 Tuyến 2 xã Nậm Giải Khỉ leo trên cây 1 2,88 Tuyến 3 xã Hạnh Dịch Dấu vết Khỉ ăn quả, Khỉ phá cây chuối 1 2,43 Hình ảnh dấu vết phá cây Chuối, dấu vết ăn quả của Khỉ tại Pù Hoạt – Gà lôi vằn: Tên khoa học: Lophura nycthemera annamensis Tên Việt Nam: Gà lôi vằn Tên khác: Gà lôi trắng Trung bộ Phân bố: Qua khảo sát trên 5 tuyến điều tra Gà lôi trắng được ghi nhận tại tuyến số 1 xã Nậm Giải với tần số bắt gặp 6,57/km. chủ yếu tại các sinh cảnh rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh và nương rẫy bỏ hoang. Chúng không được tìm thấy dọc sông suối và các nương rẫy đang hoạt động.Gà lôi vằn gặp phổ biến ở các đỉnh và xung quanh các dông núi chính với các dấu hiệu thường xuyên tìm thấy là lông vũ và các dấu hiệu đào bới tìm kiếm thức ăn.Các dông núi cao gặp với số lượng nhiều. Đặc điểm: Là một phân loàicủa loài gà lôi trắng. Đây là loài chim đặc hữu của Việt Nam. Gà lôi trắng Trung Bộ dài từ 50–125 cm, con trống có bộ lông hai màu, trắng ở trên lưng và đen ở phía bụng, còn con mái có lông nâu, mào cong, chân đỏ, da mặt đỏ. Mào dài, cằm, họng, toàn thể mặt bụng màu đen Một đặt điểm dể thấy là một dải, rộng màu trắng chạy dọc theo hai bên cổ. Chúng có những lông dài ở ngực và sườn trắng lẫn đen.Mặt lưng có những vân đen mảnh xen kẽ với vân trắng, mỗi một lông có khoảng 6 tới 7 vân trắng hẹp.Cánh màu đen với một vài vân trắng, đuôi màu đen có nhiều vân trắng hẹp.Mắt màu nâu da cam hay vàng.Mỏ đen hoặc màu xám sừng.Da quanh mắt màu đỏ tươi, Chân đỏ tía. Chim non 1 tuổi có mặt lưng màu nâu, có vân mảnh màu đen.Mào màu nâu thẫm có điểm nâu đen.Phần dưới cơ thể màu nâu lẫn nâu đen, ở ngực có vệt nâu trắng.Đuôi có vạch nâu đen và đen trắng, những lông đuôi giữa có vân mảnh màu nâu trắng. Chim cái: Nhìn chung toàn bộ lông có màu nâu tối. Đuôi màu nâu hạt dẻ sáng, cằm và họng màu xám nhạt. Mào dài và có màu nâu thẫm.Lông bao cánh, vai và toàn bộ mặt lưng có những vệt hình mũi mác màu xám nhạt, những vệt này ở phía trên lưng có mép màu tối đục.Mắt nâu.Mỏ ngà. Chân đỏ tía.Kích thước: Cánh (đực): 225 – 250; (cái): 202 – 245; đuôi (đực): 310 – 355; (cái): 215 – 255; giò: 75 – 80; mỏ: 23 – 30mm. Hình ảnh lông Gà lôi vằn tại Pù Hoạt – Lợn rừng trường sơn (Sus spp) Hình ảnh dấu vết Lợn rừng ủi đất kiếm thức ăn Lợn rừng được tìm thấy trong tất cả 08 tuyến khảo sát tại Khu BTTN Pù Hoạt, bao gồm cả sinh cảnh nương rẫy bỏ hoang và nương rấy đang hoạt động, rừng thứ sinh, rừng nguyên sinh thường xanh, xung quanh các khe suối. Loài này được tìm thấy phổ biến từ đường mòn núi Huồi Nậm, núi Pha Co Mự, núi Pha vang, Pha Danh Bóng (dấu chân được xác định với tần số 0,54 lần quan sát/km), từ khe Nậm……. – Mang Tên khoa học:Muntiacus truongsonensis Tên Việt Nam: Mang Trường sơn Tên khác: Mang Mang là một dạng hươu, nai thuộc chi Muntiacus. Mang có lẽ là loại hươu cổ nhất được biết đến, xuất hiện vào khoảng 15-35 triệu năm trước căn cứ trên di tích hóa thạch tìm thấy trong các trầm tích của thế Miocen tại Pháp và Đức. Các loài ngày nay còn sống có nguồn gốc nguyên thủy ở vùng Đông Nam Á cũng như ở Ấn Độ. Là một loại động vật nhiệt đới, mển không có chu kỳ động dục theo mùa thời tiết nên khi chuyển sang các khu vực ôn đới có thể cho giao phối ở bất kỳ thời gian nào trong năm. Mang đực có các gạc ngắn có thể mọc lại nhưng có xu hướng cắn xé nhau bằng răng (có răng nanh dài chĩa xuống) để bảo vệ lãnh địa. Đặc điểm nhận dạng: Thân hình giống hoẵng, nhưng nhỏ hơn hoẵng và gần như nhỏ nhất trong họ Hươu nai Cervidae, trọng lượng từ 14 – 20kg.Toàn thân phủ lớp lông mịn mầu vàng nâu hoặc vàng rỉ sắt.Bốn chân mảnh khảnh.Đuôi mập. Con đực có sừng ngắn không phân nhánh. Sọ hình dạng giống như sọ hoẵng, nhưng kích thước nhỏ hơn.Hố mắt và hố tuyến lệ tròn hơn. Cả đực và cái đều có răng nanh dài thò ra khỏi miệng. Sinh học – Sinh thái: Thức ăn là cỏ, quả lá cây rừng. Sinh sản còn chưa được nghiên cứu.Sống trong rừng già Nơi rừng thưa, ven nương rẫy, savan cỏ cây bụi không gặp chúng. Phân bố: Mang là động vật phổ biến tại Khu BTTN Pù Hoạt, chúng là loài phân bố rộng và có tần số gặp khác nhau tại các sinh cảnh . Dấu chân của mang lớn và mang Pù Hoạt được tìm thấy và xác định ngẫu nhiên.Qua khảo sát các tuyến có ghi nhận dấu vết loài Mang, bắt gặp dấu vết mang tại xã Nậm Giải tuyến số 1 với 2 lần xuất hiện có tần suất bắt gặp là 3,29/km, tuyến số 2 với 1 lần xuất hiện có tần suất 2,88/km, xã Hạnh Dịch tại tuyến số 1 với 2 lần bắt gặp có tần số 1,94/km, dấu vết để lại là các vết đào bới và dấu chân của chúng. Mang đỏ có đặc trưng phân bố ở khu vực núi độ cao thấp và Mang đen Pù hoạt được tìm thấy ở các dông núi cao. Sinh cảnh phân bố của loài mang lớn hiện chưa rõ ràng nhưng có thể nằm ở thung lũng các khe suối nhỏ. Sự phân chia sinh cảnh của các loài trên chưa được biết nhiều. Giá trị: Loài thú mới cho khoa học có ý nghĩa bảo tồn nguồn gen. Có giá trị thực phẩm và du lịch sinh thái. Tình trạng: Khu vực phân bố không rộng, sinh cảnh sống hạn chế trong các cánh rừng già, chúng dễ dàng bị săn bắn, bẫy bắt thường xuyên. Phân hạng: DD. Biên pháp bảo vê: Cấm săn bắn, bẫy bắt. Cấm khai thác rừng và xâm lấn các khu rừng già còn lại. Hình ảnh: Dấu chân Mang và thao tác đo đếm ươc tính kích thước con Mang KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Qua kết quả giám sát thí điểm trong 2 năm 2015 và 2016 cho thấy, chương trình GSĐG ĐDSH Khu BTTN Pù Hoạt là khả thi, về cơ bản phù hợp với yêu cầu và khả năng hiện tại của Khu BTTN Pù Hoạt. Các thành viên tham gia thực hiện đã nắm được các phương pháp giám sát, tuy nhiên, kỹ năng nhận diện các loài thú giám sát qua dấu vết và nhận diện chim ăn thịt di cư còn hạn chế và còn một số khiếm khuyết. Khi chương trình kết thúc đề xuất Khu BTTN Pù Hoạt tự triển khai công tác tuần tra giám sát Đa dạng sinh học trong các năm tiếp theo. Một số kiến nghị để công tác giám sát được tốt hơn trong những năm tới như sau Để triển khai Chương trình giam sát, đánh giá ĐDSH có hiệu quả, đề nghị Khu BTTN Pù Hoạtcần tiến hành một số hoạt động sau: Khi điều kiện cho phép cần thiết lập một hệ thống các tuyến, ô và điểm giám sát, bao gồm: – Bổ xung thêm các tuyến giám sát thú lớn và bò sát, mỗi tuyến dài 2-3 km, tại các khu vực có tính đa dạng sinh học cao như các khu vực đỉnh Pù Hoạt (2 tuyến), Đường lên mốc 372 (2 tuyến), Tuyến Hủa Mương đến mốc 367, tuyến Mốc 367- Mốc 368. Chu kỳ giám sát các tuyến này là 1 tháng khảo sát một đợt, trong mỗi đợt mỗi tuyến được khảo sát 1 lần. – Trên các tuyến giám sát thự hiện thêm công tác giám sát các loài cây thuốc như, Cốt toái bổ, Huyết Kê đằng, Thất diệp nhất chi hoa… – Tiến hành giám sát buôn bán, dược liệu và động vật hoang dã tại Khu BTTN Pù Hoạt. Chu kỳ giám sát: mỗi tháng 1 lần. – Khi chưa có điều kiện để thiết lập hệ thống giám sát đầy đủ như nêu trên có thể lựa chọn một số vấn đề ưu tiên nhất để giám sát phù hợp yêu cầu thực thế và nguồn lực có được. Tổ chức tập huấn cho tất cả các kiểm lâm viên, cán bộ Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế về phương pháp giám sát ĐDSH. Người hướng dẫn là các học viên đã tham gia đợt tập huấn này.Tuy nhiên, việc hướng dẫn nhận diện các loài thú và chim cần có các chuyên gia hỗ trợ. Mua thêm các dụng cụ phục vụ giám sát như: GPS, máy ảnh KTS, ống nhóm xem chim (loại chất lượng cao), la bàn, dụng cụ sinh hoạt dã ngoại. Trang bị cho các Trạm QLBVR tài liệu nhận dạng động vật hoang dã và cây rừng. Cử 2-3 cán bộ thuộc Phòng Khoa học và HTQT chịu trách nhiệm theo dõi, quản các dữ liệu của chương trình GS ĐDSH và định kỳ viết báo cáo nộp cho Ban giám đốc Khu BTTN Pù Hoạt và Dự án Rừng Đồng bằng, đề xuất các hoạt động liên quan đến Chương trình. Cử cán bộ đi đào tạo sâu hơn về kỹ thuật nghiên cứu giám sát động vật, thực vật (đặc biệt là kỹ năng nhận diện các loài trong thiên nhiên) và phối hợp với các Trường đại học và Viện nghiên cứu tương ứng để nâng cao chất lượng giám sát. Tổ chức triển khai Chương trình giám sát ĐDSH trên toàn KhuBTTN . Trong thời gian đầu việc khảo sát động vật và thực vật nên có sự tham gia của các nhà khoa học để giúp các cán bộ điều tra nắm chắc phương pháp điều tra và đảm bảo chất lượng số liệu giám sát Sơ đồ các tuyến đi Tuần tra giám sát đa dạng sinh học năm 2016