Đánh giá hiệu quả và tính bền vững của Mô hình nuôi gà bản địa bằng giun quế 27/12/2018 admin Năm 2016 Dự án Rừng và Đồng bằng tỉnh nghệ An đã thực hiện mô hình Nuôi gà bản địa bằng giun quế tại Bản Long Quang – Tiền Phong – Nghệ An với tổng 69 hộ dân tham gia. Mục tiêu của mô hình: Phát triển chăn nuôi gà thả vườn kết hợp nuôi giun quế, tăng thu nhập cho hộ dân sống dựa vào rừng, giảm áp lực lên tài nguyên rừng và bảo vệ và phát triển rừng bền vững Giống gà được chọn là gà cỏ tại địa phương, gà được nuôi nhốt trong chuồng kết hợp với thả vườn có hàng rào bao quanh. Thức ăn nuôi gà là ngô, đậu, lạc … trộn với giun quế do gia đình nuôi trồng được. Chuẩn bị các bể nuôi giun quế phù hợp với số lượng gà nuôi. Tính trung bình cứ nuôi 100 con gà cần 5m2 diện tích nuôi giun quế. Gà được tiêm phòng bệnh định kỳ theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật. Sau khi thực hiện, chúng tôi đã tổng hợp và đánh giá lại hiệu quả và tính bền vững của mô hình như sau: Đánh giá về hiệu quả của mô hình Hiệu quả mặt kinh tế: Hỗ trợ của dự án đã có tác dụng tích cực, giúp cho người dân nhận thức và ý thức được chăn nuôi gà hàng hóa để bán tạo thu nhập. Tuy nhiên do mô hình hoạt động nhỏ lẻ, bà con nhân dân vùng dự án lâu nay thường được hưởng các ưu đãi trợ cấp từ các chương trình dự án của chính phủ/phi chính phủ nên việc duy trì đầu tư không được lâu dài. Hầu hết các hộ giảm dần số lượng đầu tư và thời gian cho mô hình khi cuối vụ. Hiệu quả ứng phó với biến đổi khí hậu Chăn nuôi gà thả vườn kết hợp nuôi giun quế giải quyết vấn đề tận dụng được nguồn thức ăn có sẵn tại địa phương (ngô, lạc, đỗ tương, rau xanh…) để phối trộn với giun quế từ đó giảm chi phí thức ăn, tăng hiệu quả chăn nuôi; hạn chế dịch bệnh thông qua tiêm Phòng và làm chuồng che chắn mưa nắng, nuôi giun quế để tạo nguồn thức ăn bổ dưỡng tại chỗ cho gà giải quyết vấn đề thiếu thức ăn hiện nay, qua đó giảm các tác động của BĐKH đối với chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gà nói riêng. Hiệu quả xã hội đối với cộng đồng Mô hình hoạt động theo nhóm sở thích chăn nuôi gà và giun quế, tạo thành nhóm cung cấp sản phẩm đủ lớn ra thị trường, tiếp cận các thông tin và các cơ hội đầu tư (vốn vay, kiến thức, thuốc thú y) mà các hộ chăn nuôi đơn lẻ khó tiếp cận được. Đánh giá tính bền vững của mô hình Kinh tế: Về tài chính đối với cộng đồng Hỗ trợ từ dự án bao gồm các hoạt động nâng cao năng lực (tập huấn kỹ thuật nuôi gà, nuôi giun quế) các hộ dân đầu tư kinh phí làm chuồng trại, mua gà giống để nuôi. Mỗi hộ từ 50- 100 con gà con. Vụ đầu tiên, bà con rất hưởng ứng tham gia. Gà được nuôi nhốt ở trong chuồng và thả vườn có rào bao quanh thay vì thả rông theo tập quán như trước đây nên đỡ dịch bệnh. Giun quế được các hộ nuôi đầu phát triển tốt. Về môi trường Người dân ý thức được việc chăn nuôi gà nhốt kết hợp nuôi giun quế làm thức ăn cho gà là thân thiện với môi trường như là gà sẽ ít mắc dịch bệnh hơn, xử lý rác thải của gà được dễ dàng hơn. Đặc biệt, việc thu gom rác thải, phân gia súc, phế phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho giun quế sẽ làm sạch nhà, xóm làng, từ đó góp phần môi trường trong lành hơn. Về mặt xã hội: Nhiều người dân khi được hỏi trả lời rằng họ biết chăn nuôi gà kết hợp nuôi giun quế là phù hợp với điều kiện kinh tế, môi trường của gia đình và cộng đồng, tuy nhiên lại phát sinh nhiều công lao động như làm chuồng, thu gom rác thải…vv Do thời gian hoạt động của mô hình ngắn nên chưa có đánh giá cho nhân rộng mô hình. Tuy nhiên, Quế Phong là địa bàn huyện miền núi, trong đó thúc đẩy chăn nuôi, nhất là chăn nuôi cung cấp sản phẩm hàng hóa luôn được huyện chú trọng. Đánh giá khả năng nhân rộng mô hình và phát triển thị trường Thuận lợi Chăn nuôi gà thả vườn phù hợp với năng lực của các hộ gia đình có ít lao động, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, môi trường địa phương. Tiềm năng thị trường là rất lớn khi thịt gà cỏ ngày càng được ưa chuộng và tin dùng. Giun quế là nguồn thức ăn vô cùng bổ dưỡng cho gà và có thể thay thế các thức ăn công nghiệp khác. Nuôi giun quế cũng không đòi hỏi quá phức tạp kỹ thuật, các hộ dân đã được tập huấn và nhiều hộ đã làm thành công. Nuôi giun quế vừa đảm bảo cung cấp nguồn thức ăn (giun) cho gà, vịt, ngan, ngỗng mà còn làm sạch nhà, sạch xóm vì thức ăn của giun là phân trâu, bò, lợn gà, rác thải nông nghiệp. Chủ trương chăn nuôi của tỉnh: Hiện nay tỉnh Nghệ An ban hành quyết định số 87/2014/QĐ-UBND ngày 17/11/2014 ban hành quy định một số chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Khó khăn Tập quán trông chờ ỷ lại của người dân lâu đời. Dịch bệnh xảy ra thường xuyên, trong khi ý thức tiêm Phòng cho đàn gia súc, gia cầm của người dân không đồng đều. Các hộ dân chưa mạnh dạn bỏ vốn nhiều đầu tư nuôi thành nguồn cung cấp hàng hóa số lượng lớn. Do địa điểm lựa chọn mô hình là vùng dân tộc Thái, sâu và xa, người dân ở đây đã quá quen thuộc với hưởng trợ cấp, nhưng tập quán chăn nuôi thả rông vẫn rất còn phổ biến nên rất khó để nhân rộng. Lý do thứ hai là địa bàn xã cách tỉnh lị, thị trấn xa, nên nguồn cung vacxin Phòng bệnh cho gà không có sẵn và nguyên nhân thứ 3 là chăn nuôi giun quế lần đầu tiên giới thiệu cho người dân, nhưng do tập quán thả rông gia súc nên không có nguồn phân chuồng làm thức ăn cho giun quế, dẫn đến khó nhân rộng việc nuôi giun quế. Bài học kinh nghiệm và khuyến nghị Với mục tiêu phát triển chăn nuôi gà thả vườn kết hợp nuôi giun quế làm thức ăn cho gà là biện pháp chăn nuôi cải tiến, tạo ra sản phẩm gà sạch, thích ứng với biến đổi khí hậu hiện nay. Mô hình được thí điểm là cơ hội tốt để người dân sinh sống ở các khu vực gần rừng, sống dựa vào tài nguyên rừng tạo hoạt động sinh kế, tăng thu nhập hướng tới giảm thiểu khai thác tài nguyển rừng, từ đó góp phần bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Tuy nhiên cách tiếp cận của dự án chỉ tập trung vào hỗ trợ kỹ thuật như tập huấn, hướng dẫn chăn nuôi theo nhóm không phát huy hiệu quả khi mà những người dân hưởng lợi ở đây ( đa phần là dân tốc Thái) thường được hưởng các trợ cấp miễn phí từ Chính phủ và các chương trình dự án khác. Việc triển khai mô hình chưa tạo ra tính “làm chủ” cho các hộ gia đình, nhất là cấp chính quyền địa phương ( thôn, xã) nên họ chưa phát huy tinh thần trách nhiệm làm chủ của họ đối với mô hình, dẫn đến việc lơ là trong giám sát, quản lý thực hiện mô hình. Khuyến nghị cho mô hình sắp tới, cần tạo được tính “ làm chủ” mô hình đối với đối tác địa phương, trao nhiều quyền và thông tin cho họ trong các khâu lựa chọn, thành lập và vận hành mô hình Liên kết với doanh nghiệp, cơ sở chế biến lớn để thiết lập mối quan hệ hợp tác tiêu thụ đầu ra cho nông dân, trong đó vai trò của chính quyền huyện và xã kết nối, hỗ trợ là rất quan trọng. Hoàng Thị Nguyệt – Cán bộ phụ trách sinh kế của Dự Án VFD