Dự án hỗ trợ nông dân mô hình sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu ở xã Tân Bình, huyện Như Xuân, Thanh Hóa 05/10/2018 admin Xã Tân Bình là một trong 11 xã đặc biệt khó khăn của huyện Như Xuân với 31,9% là hộ nghèo, do diện tích của xã nằm giáp ranh với vườn Quốc gia Bến En (với 6/11 thôn của xã thuộc vùng đệm vườn Quốc gia) nên các hoạt động sản xuất chính của người dân nơi đây chủ yếu là sản xuất Nông lâm nghiệp và khai thác tài nguyên rừng. Đây cũng là xã có 4 dân tộc cùng chung sống (Thái, Thổ, Mường, Kinh). Cả xã có 658 hộ với 2.712 nhân khẩu, trong đó chiếm 64% là người dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ dân làm nông nghiệp chiếm 95%. Với 210/658 là hộ nghèo chủ yếu là các gia đình phụ nữ đơn thân là chủ hộ, gia đình đông con, gia đình là dân tộc thiểu số. Cho đến đầu năm 2014 thu nhập bình quân đầu người của xã là 970.000 đồng/người/tháng, trong khi đó thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo là 330.000 đồng/người/tháng. Đối với các hộ nghèo nơi đây, nguồn thu nhập chính chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Tuy nhiên, các hoạt động này mới chỉ mang tính chất manh muốn, áp dụng các phương thức canh tác truyền thống bản địa, chưa áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất và chưa tận dụng tốt các lợi thế của địa phương trong sản xuất. Thực trạng các hộ sản xuất nông nghiệp nơi đây đang gặp phải đó là: Chi phí sản xuất nông nghiệp còn cao: Với những phong tục tập quán canh tác lạc hậu trong chăm sóc và bảo vệ cây trồng người dân đang sử dụng nhiều các sản phẩm công nghiệp trong sản xuất như : Phân bón hóa học, thức ăn công nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật …dẫn đến chi phí sản xuất lớn nên hiệu quả mang lại không cao. Trong khi đó,các sản phẩm phụ trồng trọt, chất thải từ chăn nuôi gia súc, gia cầm. Người dân có thói quen ít sử dụng mà đốt hoặc để nguyên ngoài ruộng, các chất thải chăn nuôi không được xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đất, đặc biệt là nguồn nước sinh hoạt của người dân chủ yếu là các khe, suối nhỏ. Việc chăn nuôi gia cầm của các hộ đang còn mang tính chất nhỏ lẻ, chủ yếu là chăn nuôi hộ gia đình. Việc người dân chăm sóc và kiểm soát dịch bệnh còn hạn chế khi kiến thức về áp dụng các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh cho vật nuôi chưa được thực hiện hiệu quả. Bên cạnh đó, thực trạng người dân chăn thả gia súc đang mang hình thức thả rông. Do vậy việc tận dụng nguồn phân gia súc cho sản xuất Nông nghiệp còn chưa được thực hiện triệt để dẫn đến tình trạng chất thải chăn nuôi làm ảnh hưởng đển ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, những hộ nghèo nơi đây chủ yếu là những người dân tộc thiểu số, phụ nữ đơn thân làm chủ hộ,..họ là những đối tượng đã và đang chịu thiệt thòi trong xã hội, họ thiếu kiến thức sản xuất tiên tiến, thiếu vốn sản xuất, thiếu tư liệu sản xuất…trong khi thực trạng sản xuất nơi đây đang mang tính chất lạc hậu, thiếu tính bền vững dẫn đến cuộc sống những người nghèo càng trở nên nghèo hơn. Vì thế, người dân có khuynh hướng giới hạn quy mô sản xuất của mình và lao động chính trong hộ gia đình chuyển sang tìm kiếm các nguồn thu nhập khác từ rừng hoặc đi làm thuê tại các khu đô thị và các địa phương khác, bởi vậy việc nuôi dạy con cái, sản xuât nông nghiệp,… tại gia đình lại đè nặng lên vai người phụ nữ, nên sản xuất nông nghiệp lại càng bấp bênh, kém hiệu quả Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giúp người dân nơi đây dần thay đổi những thói quen, phong tục tập quán lạc hậu không những không mang lại hiệu quả mà ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và ô nhiễm môi trường. Nhằm góp phần cùng chính quyền địa từng bước cải thiện thực trạng trên Trung tâm nghiên cứu, tư vấn quản lý tài nguyên thiên nhiên và thích ứng biến đổi khí hậu (CORENACCA) đề xuất thực hiện tiểu dự án “Hỗ trợ nông dân cải thiện sản xuất Nông nghiệp bền vững thích ứng với Biến đổi khí hậu” tại xã Tân Bình, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Với mục tiêu chung: Nhằm tăng thu nhập ổn định từ sản xuất Nông nghiệp góp phần xóa đói giảm nghèo cho các hộ nghèo, hộ phụ nữ đơn thân nghèo và hộ dân tộc thiểu số nghèo trên địa bàn 05 thôn xã Tân Bình. Để đạt được mục tiêu chung của Dự án hướng đến các nhóm giải pháp như sau: Nhóm giải pháp nâng cao năng lực: Từ việc người dân nghèo họ đang thiếu những thông tin về kiến thức khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất. Dự án tổ chức các hoạt động tăng cường năng lực như tổ chức các khóa tập huấn theo phương pháp “lớp học hiện trường” đây là phương pháp nhằm cung cấp thêm kiến thức, kỹ thuật xây dựng mô hình bằng trực quan thông qua các bài giảng thực tế sử dụng các hình ảnh minh họa trên các mô hình cụ thể tại hiện trường, qua đó người dân được quan sát trực tiếp và được tham gia thực hành các công đoạn kỹ thuật xây dựng mô hình sẽ giúp họ dễ hiểu, nhớ lâu. Bên cạnh đó sẽ tổ chức tham quan, hội thảo,… về sản xuất nông nghiệp cho người dân sẽ góp phần giải quyết thực trạng người dân thiếu kiến thức, thiếu thông tin về kỹ thuật, phương thức sản xuất nông nghiệp mới, điều đó sẽ giúp người dân dần thay đổi những phong tục canh tác cũ, thiếu phù hợp như hiện nay. Xây dựng các mô hình sinh kế: Dự án đã đề xuất đưa ra các mô hình sinh kế nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, góp phần tăng thu nhập cho nhóm người nghèo. Để các mô hình sinh kế mang lại hiệu quả cao về kinh tế – xã hội – môi trường, các mô hình phải đạt được các tiêu chí sau: i) Không tạo ra áp lực về tài chính cho nông dân khi dự án kết thúc do chi phí đầu tư không cao; ii) Kỹ thuật áp dụng và quản lý đơn giản, không có rủi ro hoặc rủi ro ít, áp dụng được cho tất cả các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp; iii) Không gây áp lực làm việc nặng nhọc cho phụ nữ, trẻ em, người già… và đảm bảo sức khỏe cho con người, môi trường. Mô hình 1: Mô hình sản xuất phân vi sinh. Là giải pháp nhằm tận dụng các nguồn phế, phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp như: Thân cây lạc, đậu, rơm rạ, lá cây các loại chất thải từ chăn nuôi. Các nguyên liệu dưới tác dụng của các chủng Vi sinh sẽ phân giải chúng thành dạng phân bón có giá trị cho cây trồng, giảm mùi hôi thối từ chất thải chăn nuôi, hạn chế việc người dân đốt các phế phẩm nông nghiệp góp phần bảo vệ môi trường và giảm chi phí trong sản xuất. Mô hình 2: Mô hình nuôi giun quế Giun quế là loài sinh vật có hàm lượng Protein thô chiếm 70% trọng lượng khô, là nguồn thức ăn sạch và giàu dinh dưỡng cho gia súc, gia cầm…Chúng có khả năng sinh sản rất nhanh và thích ứng với điều kiện khí hậu tại địa phương. Nguồn thức ăn chủ yếu của Giun quế chủ yếu từ chất thải các loại gia súc, gia cầm.Kỹ thuật nuôi rất đơn giản, chi phí giống và chuồng trại thấp, thời gian nhân giống, cho sản phẩm nhanh (1-2 tháng). Việc đưa mô hình nuôi giun quế là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm tận dụng các loại chất thải chăn nuôi để tạo ra nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia súc, gia cầm giúp vật nuôi lớn nhanh hơn, chất lượng sản phẩm sạch hơn và tiết kiệm chi phí chăn nuôi cho người dân . Bên cạnh đó, phân giun là nguồn phân bón rất tốt cho cây trồng, giun quế có khả năng phân giải, khử mùi hôi rất hiệu quả các chất thải chăn nuôi, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Mô hình 3: Mô hình nuôi gà trên nền đệm lót sinh học. Qua khảo sát một số hộ nghèo ở các thôn, mỗi gia đình chủ yếu nuôi từ 10-20 con gà với mục đích cung cấp thức ăn hàng ngày cho gia đình. Đa số họ chưa nắm được các kỹ thuật nhằm phòng ngừa, hạn chế các loại dịch bệnh cho gà. Do vậy, họ chưa tự tin để chăn nuôi với quy mô lớn hơn với mục đích bán ra thị trường nên họ tự giới hạn quy mô chăn nuôi. Việc áp dụng mô hình nuôi gà trên nền đệm lót sinh học là một trong những giải pháp hiệu quả trong chăn nuôi. Với việc kết hợp giữa các chế phẩm sinh học và các loại chất độn qua quá trình lên men sinh học sẽ hạn chế thấp nhất mùi hôi, thối từ các loại chất thải chăn nuôi, ức chế và tiêu diệt sự phát triển của hệ vi sinh vật có hại, khống chế sự lên men sinh khí hôi thối. Bên cạnh đó, khi sử dụng mô hình này sẽ hạn giảm được công vệ sinh chuồng trại, hạn chế các loại dịch bệnh cho chăn nuôi. Giữ ấm cho vật nuôi vào mùa đông do đệm lót luôn luôn ấm bởi nhiệt từ hoạt động của hệ men vi sinh vật. Để đảm bảo công tác phòng dịch cho đàn gia cầm tránh xảy ra các loại dịch bệnh, Dự án sẽ phối hợp với UBND xã cử cán bộ thúy y xã, thôn tham gia vào các nhóm sinh kế và có kế hoạch kết hợp với các đợt tiêm phòng định kỳ của địa phương để hỗ trợ các hộ có các dịch vụ thú y đảm bảo công tác tiêm phòng tốt cho đàn gia cầm.