Hiệp định Đối tác tự nguyện về Thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản 22/10/2018 admin Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) về Thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT) (gọi tắt là VPA/FLEGT) do Liên minh Châu Âu (EU) đề xuất đã được ký tắt kết thúc đàm phán giữa Chính phủ Việt Nam với Liên minh Châu Âu tháng 11/2017. Đây là Hiệp định thương mại song phương giữa EU với Chính phủ Việt Nam về xuất khẩu khẩu gỗ và sản phẩm gỗ. VPA/FLEGT được ký tắt dựa trên yêu cầu của EU là nhằm giải quyết các vấn đề cấp bách về khai thác và buôn bán gỗ bất hợp pháp và các căn cứ như: Các nguyên tắc và cam kết trong Tuyên bố về Chương trình nghị sự của Liên Hiệp Quốc về phát triển bền vững đến năm 2030 trên ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường hài hòa và toàn diện, trong đó mục tiêu đến năm 2020 thúc đẩy quản lý bền vững tất cả các loại rừng, ngăn chặn nạn phá rừng, trồng mới và trồng lại rừng trên toàn cầu; Nguyên tắc và quy tắc về quyền và nghĩa vụ quy định tại Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) năm 1994; … Đặc biệt, cam kết của Chính phủ Việt Nam về quản lý rừng bền vững và thương mại lâm sản trong đàm phán ký kết Hiệp định thông qua các nỗ lực thực thi luật Lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản, xây dựng hệ thống gỗ hợp pháp (VNTLAS) và củng cố công tác quản lý rừng bền vững, góp phần chống biến đổi khí hậu thông qua nỗ lực giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng, vai trò của bảo tồn, quản lý rừng bền vững và nâng cao trữ lượng các bon rừng (REDD+). Mục tiêu chính của Hiệp định là phù hợp với những cam kết của hai Bên về quản lý bền vững tất cả các loại rừng. Hiệp định này tạo ra khung pháp lý để đảm bảo tất cả các mặt hàng từ gỗ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này được nhập khẩu vào EU từ Việt Nam đều có nguồn gốc từ rừng được quản lý bền vững và khai thác phù hợp với quy định pháp luật của quốc gia khai thác. Tiến trình đàm phán Hiệp định VPA/FLEGT giữa Chính phủ Việt Nam và EU được bắt đầu từ tháng 11/2010, trải qua nhiều vòng đàm phán, hai bên đã thống nhất ký tắt kết thúc đàm phán Hiệp định, tập trung vào 9 nội dung chính, bao gồm: Danh mục hàng hóa đưa vào hiệp định VPA để cấp phép FLEGT; Định nghĩa gỗ hợp pháp Việt Nam; Điều kiện quy định cho phép lưu thông tự do vào EU các sản phẩm gỗ được cấp phép FLGT; Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp của Việt Nam (VNTLAS); Đề cương nhiệm vụ cho đánh giá độc lập; Tiêu chí đánh giá tính sẵn sàng vận hành hệ thống VNTLAS; Công bố thông tin; Chức năng nhiệm vụ của Ủy ban thực thi chung Hiệp định. Dự kiến Hiệp định sẽ được hai bên phê chuẩn vào cuối tháng 10 năm 2018, theo đó, ủy ban thực thi chung sẽ được thành lập, đánh giá độc lập về sự sẵn sàng của VNTLAS sẽ được thực hiện làm cơ sở cho cấp giấy phép FLEGT. Giấy phép FLGT là giấy thông hành cho gỗ và sản phẩm gỗ được xuất khẩu vào EU theo Quy chế của Hội đồng Châu Âu (EC) số 2173/2005 và theo Hiệp định VPA/FLEGT, theo đó EU chỉ chấp nhận các lô gỗ và sản phẩm gỗ nhập khẩu từ Việt Nam khi các lô hàng đó có giấy phép FLEGT theo Danh mục gỗ và sản phẩm gỗ trong hiệp định VPA/FLEGT và Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp của Việt Nam (VNTLAS), đồng thời không phải chịu trách nhiệm giải trình nguồn gốc gỗ theo Qui chế gỗ hợp pháp của EU (EUTR995/2010) như đối với các đối tác không tham gia VPA. Trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam đang thực hiện nhiều chính sách nhằm tăng cường thực thi lâm luật, quản lý rừng bền vững như: Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII, Quyết định số 419/QĐ-TTg ngày 05/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình quốc gia về giảm phát thải khí nhà kính thông qua hạn chế mất và suy thoái rừng; bảo tồn, nâng cao trữ lượng các – bon và quản lý bền vững tài nguyên rừng,… việc Hiệp định VPA được thực thi sẽ góp phần tạo ra sự thay đổi trong việc ra quyết định giữa các bên, đảm bảo quyền cũng như các tác động tích cực trực tiếp hoặc gián tiếp đến sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào rừng, đây là cơ hội tốt góp phần thúc đẩy toàn diện công tác quản trị rừng theo hướng bền vững ở tất cả các cấp chính quyền, nghành Lâm nghiệp và cộng đồng, xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống cho người dân sống phụ thuộc vào rừng, góp phần thực thi các chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước nghiêm túc và hiệu quả. Ngoài ra, VPA sẽ hứa hẹn sẽ thu hút sự tham gia mạnh mẽ của khối doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào chuỗi giá trị gỗ và sản phẩm gỗ góp phần tăng nguồn lực tài chính trong quản lý rừng bền vững, đa dạng và nâng cao chất lượng sản phẩm gỗ, tạo thêm công việc cho người lao động góp phần cải thiện an sinh xã hội cho các địa phương. Bên cạnh những lợi ích, theo đánh giá của các chuyên gia và các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ, khi thực hiện VPA/FLEGT bên cạnh những khó khăn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lớn như thủ tục cấp phép, thu mua nguyên liệu gỗ có nguồn gốc,… sẽ còn nhiều khó khăn đối với người dân trồng rừng sản xuất và các cơ sở chế biến gỗ nhỏ lẻ do chưa biết các yêu cầu của VPA/FLEGT, họ chỉ quan tâm đến trồng và khai thác gỗ để bán mà không quan tâm đến các quy định về hồ sơ truy xuất nguồn gỗ cần có các bằng chứng chứng minh từ khâu sử dụng đất trồng rừng, khai thác, tận thu, vận chuyển, mua bán,… Do đó sẽ khó khăn trong việc truy xuất nguồn gốc gỗ hợp pháp. Bên cạnh đó, thực thi triệt để lâm luật cũng sẽ tác động đến cuộc sống hàng ngày của một bộ phận không nhỏ người dân sống phụ thuộc vào rừng do họ sẽ bị hạn chế tiếp cận rừng làm mất đi nguồn thu đáng kể hàng ngày từ khai thác các lâm sản ngoài gỗ, thiếu đất sản xuất nông nghiệp,… Đó là những thách thức mà chính quyền địa phương các cấp và ngành lâm nghiệp cần phải quan tâm giải quyết khi VPA/FLEGT có hiệu lực tại Việt Nam. Với tổng diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp trên toàn tỉnh Thanh Hóa là 647.677 ha (gồm: quy hoạch rừng đặc dụng 82.123,44 ha, rừng phòng hộ 163.538,25 ha, rừng sản xuất 402.015,42 ha). Bên cạnh những chính sách về quản lý rừng bền vững đang được thực thi, ngày 11/10/2018 Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đã có Quyết định số 3932/QĐ-UBND về việc “Phê duyệt Kế hoạch hành động về giảm phát thải khí nhà kính thông qua hạn chế mất và suy thoái rừng; bảo tồn, nâng cao trữ lượng các- bon và quản lý bền vững tài nguyên rừng tỉnh Thanh Hoá, đến năm 2030”. Theo đó, ngoài các giải pháp nhằm quản lý rừng bền vững, còn có giải pháp nâng cao chất lượng rừng trồng gắn với chế biến lâm sản, cụ thể: Tập trung phát triển rừng trồng kinh doanh gỗ lớn 55.932 ha với các loài cây Keo tai tượng, Lát Hoa và Xoan, Sao đen… nhằm cung cấp nguyên liệu cho chế biến công nghiệp, gia dụng; nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực canh tranh và giá trị gia tăng của rừng gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; Quy hoạch vùng nguyên liệu cho nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 tạo điều kiện phát triển vùng nguyên liệu ổn định, đồng bộ từ sản xuất, cung ứng nguyên liệu đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Với các cơ sở pháp lý này, việc thực thi VPA/FLEGT trên địa bàn tỉnh sẽ có nhiều thuận lợi và chắc chắn sẽ đem đến các tác động tích cực đối với lĩnh vực chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh, là bước khởi đầu cho chính quyền, ngành lâm nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp chế biến gỗ và sản phẩm gỗ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa xây dựng hệ thống quản lý và vận hành chuỗi hành trình gỗ hợp pháp bền vững đáp ứng được các yêu cầu của Hiệp định. Để có bức tranh tổng quan về thực thi lâm luật theo các tiêu chí của VPA/FLGT, từ tháng 8 – tháng 9/2018, Ban quản lý dự án FCPF2 tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp với Chi cục kiểm lâm Thanh Hóa đánh giá tại 11 huyện trọng điểm trong tỉnh, kết quả đánh giá sẽ được tham vấn tại Hội thảo cấp tỉnh dự kiến tổ chức trong Quý IV/2018, đây sẽ là cơ sở thuận lợi để Thanh Hóa thực thi VPA/FLEGT có hiệu quả trong thời gian tới. Tuy nhiên, để VPA/FLEGT vận hành có hiệu quả trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa rất cần có sự chỉ đạo quyết liệt của UBND tỉnh, sự chung tay phối hợp, hợp tác của các Sở, Ban, Ngành liên quan, chính quyền địa phương, cộng đồng doanh nghiệp chế biến gỗ và cộng đồng dân cư đang tham gia trồng, quản lý, bảo vệ rừng trên toàn tỉnh.