Home    Uncategorized  Mô hình canh tác lúa thích ứng biến đổi khí hậu tại huyện Bá Thước, Thanh Hóa

Mô hình canh tác lúa thích ứng biến đổi khí hậu tại huyện Bá Thước, Thanh Hóa

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÓM TẮT KẾT QUẢ THỰC HIỆN MÔ HÌNH

“Canh tác lúa thông minh với khí hậu”

  1. Đơn vị thực hiện: Dự án Rừng và Đồng bằng Việt Nam

Ông Hoàng Văn Tuấn –Tư vấn CORENACCA trực tiếp chỉ đạo thực thi Dự Án)

  1. Đối tượng tập huấn: Nông dân các xã Ban Công, Thiết kế, Lương Trung, Điền Quang, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa
  2. Thời gian tập huấn: Tháng 6/2014 – Tháng 9/2016
  3. Thông tin tóm tắt về mô hình:
  • Tên mô hình: Canh tác lúa thông minh với khí hậu
  • Mục đích: Nông dân có khả năng canh tác lúa bền vững góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho hộ gia đình trong bối cảnh biến đổi khí hậu
  • Mục tiêu cụ thể: Tăng cường kiến thức và năng lực về canh tác lúa thông minh với khí hậu (CSR) cho nông dân để đảm bảo cải thiện năng suất lúa và thích ứng với điều kiện tự nhiên của địa phương trong bối cảnh Biến đổi khí hậu.
  • Kết quả mong đợi:
  • Nhận thức và năng lực canh tác CSR của nông dân được cải thiện và nâng cao.
  • Canh tác lúa theo CSR được nhân rộng tại 4 xã tham gia mô hình trong năm 2016
  • Tiến trình triển khai:
  • Tập huấn lý thuyết và thực hành cho nông dân. Sau tập huấn nông dân sẽ áp dụng kiến thức đã học cho canh tác lúa của gia đình
  • Đóng góp của VFD:
  • Điều tra , khảo sát đánh giá nhu cầu của nông dân
  • Lập kế hoạch, tổ chức, thực hiện
  • Tập huấn chương trình canh tác lúa thông minh với khí hậu cho nông dân
  • Đánh giá nhận thức, nhu cầu và kết quả học tập.
  • Thực hành đồng ruộng kỹ thuật canh tác lúa
  • Hỗ trợ kỹ thuật áp dụng tại hộ gia đình
  • Hội thảo – Tổng kết
  • Đánh giá mô hình
  1. Quy mô và phương pháp tập huấn:
  • Số lượng nông dân tham gia: 106 người (4 lớp)
  • Thời lượng tập huấn: 9 ngày/lớp x 4 lớp
  • Diện tích áp dụng: 8.75 ha
  • Phương pháp triển khai mô hình:
  • Tập huấn nhiều chuyên đề theo từng giai đoạn phát triển của cây lúa
  • Phương pháp vừa học lý thuyết gắn liền thực hành tại đồng ruộng
  • Nông dân áp dụng canh tác CSR cho gia đình ngay sau tập huấn
  • Nông dân gặt điểm, tự đánh giá năng xuất, và so sánh với canh tác truyền thống.
  1. Các tiêu chí kỹ thuật chính của mô hình:
  • Tăng năng suất lúa
  • Giảm chi phí – Tăng lợi nhuận
  • Giảm ô nhiễm môi trường – Giảm phát thải
  • Thích ứng với Biến đổi khí hậu (Thích ứng với các loại hình thiên tai: Hạn hán, sâu bệnh hại, giông tố,…)
  • Nông dân áp dụng canh tác lúa đáp ứng được ¾ tiêu chí trên được coi là áp dụng
  1. Phương pháp đánh giá mức độ áp dụng:
  • Đánh giá 193 hộ áp dụng từ tháng 6/2016 –tháng 9/2016: Do số hộ tham gia tập huấn lớn, khu vực tập huấn là miền núi, địa bàn rộng, nông dân thường xuyên làm nương rẫy trong rừng xa nhà do đó chưa thể đánh giá 100% hộ tham gia tập huấn trong đợt đánh giá này, do đó áp dụng phương pháp đánh giá “Chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm” – Ít nhất trên 65% số hộ tham gia tập huấn được đánh giá (Magnani, 1997). Tổng số hộ đánh giá/số hộ tập huấn 71/106 (67% hộ đánh giá)
  1. Kết quả đánh giá:
  • Số hộ tham gia đánh giá dụng mô hình: 71 hộ (67%)
  • Các giải pháp kỹ thuật áp dụng nhiều nhất:
  • Gieo mạ thưa
  • Cấy mạ non
  • Cấy một dảnh
  • Cấy thưa
  • Giảm phân hóa học
  • Sử dụng phân chuồng
  • Các giải pháp kỹ thuật áp dụng ít nhất:
  • Quản lý nước
  • Trong số 71 hộ đánh giá có 2.8% (2 hộ) hộ áp dụng 100% các giải pháp kỹ thuật trên; 54,9% ( 39 hộ) hộ áp dụng 6/7 giải pháp kỹ thuật trên; 42,3% (30 hộ) hộ áp dụng 5/7 giải pháp kỹ thuật trên.
  • Số hộ áp dụng: Theo tiêu chí (áp dụng 50% giải pháp kỹ thuật được coi là áp dụng) và phương pháp đánh hộ áp dụng có 106 hộ (100% ) số hộ áp dụng canh tác lúa CSR
  • Hiệu quả mô hình
  • Năng xuất tăng từ: 63,4 kg/sào – 95kg/sào
  • Chất lượng lúa: Sử dụng thuốc BVTV ít hơn canh tác truyền thống 2 lần/vụ, do đó dư lượng thuốc BVTV ít.
  • Lợi nhuận tăng: 525,550đ /sào- 654,500đ đ/sào (511,000đ/ha – 13.090,000đ/ha)
  1. Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình:
  • Quản lý và sử dụng nước: SRI áp dụng việc tưới nước có kiểm soát từ khi cấy đến thu hoạch, đưa nước vào rút nước ra xen kẽ, tiết kiệm được nước tưới góp phần giảm nhẹ phát thải khí Metan (CH4).
  • Giảm lượng phân đạm và bón phân vùi sâu giảm nhẹ phát phải khí N2O ;
  • Quản lý rác thải: Tận dụng được phụ phẩm nông nghiệp – rơm rạ, làm thức ăn cho gia súc, ủ phân hữu cơ làm tăng độ màu mỡ cho đât, giảm nhẹ được phát thải khí CO2.  do đốt rơm rạ và vùi tại đồng ruộng sau thu hoạch.
  • Năng xuất và hiệu quả kinh tế: Canh tác CSR cho năng xuất và hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn canh tác truyền thống: Giải quyết được an ninh lương thực
  • Tính thích ứng của SRI với BĐKH: Các biện pháp canh tác của SRI đã tạo điều kiện cho cây lúa sinh trưởng phát triển khỏe, tăng khả năng tính chống chịu với sâu bênh cũng như bất lợi của thời tiết gây ra.
  1. Kết luận: Canh tác lúa CSR rất hiệu quả theo các tiêu chí về nông nghiệp thông minh với khí hậu và phát triển bền vững, đồng thời phù hợp với nhu cầu và định hướng phát triển canh tác lúa của địa phương (kết luận 190/KL-HU của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Bá Thước về việc nhân rộng hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI kết hợp với bón phân viên nén dúi sâu cho lúa) do đó dự án cần tiếp tục phối hợp với các đơn vị chuyên môn của huyện Bá Thước duy trì và nhân rộng trên quy mô lớn trên địa bàn huyện trên cơ sở nguồn lực hiện có của dự án và khả năng đóng góp của địa phương.Hoàng Văn Tuấn – Cán bộ CORENACCA 

     

Bài viết liên quan

Cây chuối – Sinh kế bền vững, bảo vệ môi trường

Trước đây, gia đình tôi cũng trồng chuối nhưng do không có kỹ thuật trồng và chăm sóc nên cây chuối...

Ban quản lý dự án kiểm tra, đánh giá triển khai các hoạt động tại hiện trường dự án

Dự án “Tăng cường khả năng ứng phó với thiên tai của cộng đồng người dân khu vực rừng đầu nguồn” được...