Đa dạng hóa các loại hình năng lượng, hướng tới Net-zero ở Việt Nam. 10/05/2022 admin Đa dạng hóa các loại hình năng lượng Hướng tới Net-zero ở Việt Nam Báo cáo mới nhất 2021 của ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) cho biết thế giới cần giảm lượng phát thải nhà kính về 0 (zero) trước năm 2050, nhằm kiểm soát nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng không quá 1,5℃, tránh các thảm họa khí hậu tàn khốc và không thể đảo ngược cứu vãn. Tất cả 197 quốc gia tham dự Hội nghị lần thứ 26 các Bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (COP26). Ảnh chụp bởi REUTERS/Phil Noble Do vậy, mục tiêu “phát thải ròng bằng 0” (net-zero) là một trong những chủ đề thảo luận chính tại Hội nghị lần thứ 26 về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc (COP26) năm 2021. Hiểu ngắn gọn, Net-zero là đạt được sự cân bằng giữa lượng khí nhà kĩnh phát thải vào khí quyển và lượng được hấp thụ tại một giai đoạn bất kì. Đến nay có 137 quốc gia, đại diện cho 88% tổng lượng phát thải thế giới, gồm các nước phát triển lớn như Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ đã cam kết hoặc hướng tới mục tiêu net-zero. Mỗi quốc gia tự đặt ra mốc thời gian để đạt mục tiêu này, phần lớn là vào năm 2050, một số ít ngoại lệ vào năm 2035 và muộn nhất vào năm 2070. Tại hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã đưa ra cam kết net-zero cho Việt Nam vào năm 2050. Đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam với nền kinh tế đang phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu hóa thạch, mục tiêu có khả thi và làm cách nào? Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại Hội nghị lần thứ 26 các Bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (COP26). (Ảnh: Dương Giang-TTXVN). NDC 2020 (Đóng góp do quốc gia tự quyết định) ước tính tổng lượng phát thải khí nhà kính năm 2020 đạt 528,4 triệu tấn CO2 tđ, năm 2030 927,9 triệu tấn CO2 tđ. Trong năm lĩnh vực phát thải chính theo phân loại của IPCC: Năng lượng Nông nghiệp, Sử dụng đất, Thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp, Xử lý chất thải và các quy trình công nghiệp. Thì năng lượng là ngành có lượng phát thải lớn nhất, chiếm khoảng 65,8% tổng lượng phát thải khí nhà kính năm 2020 và ước tính tăng lên 73,1% năm 2030. Trong lĩnh vực năng lượng, 60% lượng phát thải năm 2020 từ công nghiệp năng lượng – chủ yếu từ sản xuất điện năng. Do đó, việc giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất điện là vô cùng quan trọng để Việt Nam có thể đạt cam kết trong NDC và các mục tiêu net-zero mới. Tính đến 2020, tổng công suất lắp đặt hệ thống điện quốc gia đạt khoảng 69,3 GW với nguồn năng lượng tái tạo chiếm 55,3% (Thủy điện 30% và các nguồn tái tạo phi thủy điện 25,3%); nhiên liệu hóa thạch chiếm 44% và 08% còn lại là điện nhập khẩu. Trong dự thảo Quy hoạch điện quốc gia VIII (PDP8), tổng công suất lắp đặt dự báo tăng hơn gấp đôi, lên 138GW năm 2030 đạt 276GW năm 2045, nhưng cơ cấu nguồn điện không đáng kể, theo dự thảo này, Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch (khoảng 42% tổng công suất) Để đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng nhanh vào năm 2045. Cả thế giới chạy đua theo hướng chuyển đổi năng lượng và quay lưng lại với nhiên liệu hóa thạch. Phải chăng năng lượng tái tạo có phải chỉ toàn các ưu điểm? Trong điều kiện thực tế Việt Nam, Phát triển đa dạng hóa các loại hình năng lượng, và bổ trợ lẫn nhau được xem là phương án tối ưu nhất. Bảng ưu điểm và nhược điểm của loại hình năng lượng theo góc nhìn của CORENACCA và đối tác VNECO2: LOẠI HÌNH ƯU ĐIỂM NHƯỢC ĐIỂM Điện than Có thể phát triển công suất lớn Thi công lắp đặt theo quy chuẩn Hoạt động ổn định Sử dụng năng lượng hóa thạch Tác nhân chính phát thải CO2 Điện khí Hoạt động ổn định Thi công lắp đặt theo quy chuẩn Sử dụng năng lượng hóa thạch Giá đầu vào biến động mạnh Nhập khẩu khí đầu vào Thủy điện tích năng Kế hợp điều tiết nước Có thể phát triển công suất lớn Thời gian xây dựng lâu Ảnh hưởng đến sinh cảnh Phụ thuộc vào thời tiết Thủy điện nhỏ Không gây ô nhiễm Phụ thuộc vào thời tiết Công suất nguồn hạn chế Điện mặt trời Không gây ô nhiễm môi trường trực tiếp Xây dựng nhanh Không ổn định Vấn đề tạo ra và xử lý tấm pin hết hạn sử dụng Gây bức xạ và phản ứng đến môi trường xung quanh Điện gió Không gây ô nhiễm môi trường trực tiếp Có thể phát triển công suất lớn Không ổn định Ảnh hưởng đến sinh cảnh, tạo bóng đổ, tiếng ồn Thi công xây dựng tùy thuộc vào địa hình Vận hành, bảo dưỡng đòi hỏi kĩ thuật cao Điện sinh khối Nguồn nguyên liệu đầu vào là sản phẩm tự nhiên có sẵn (phế phẩm nông nghiệp, rác thải sinh hoạt) Khó phát triển quy mô lớn nếu thu gom Nếu phát triển công suất lớn cạnh tranh với ngành nông nghiệp Đốt cháy thực vật cũng tạo ra CO2 CORENACCA biên tập theo nguồn tạp chí Forbes tại Việt Nam. Thẻ:BftW CORENACCA Năng lượng tái tạo Năng lượng xanh VNECO2