Home    Sinh kế  Nuôi ong lấy mật gắn với tiêu thụ sản phẩm

Nuôi ong lấy mật gắn với tiêu thụ sản phẩm

 MÔ HÌNH SINH KẾ: Nuôi ong lấy mật gắn với tiêu thụ sản phẩm

tại xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa – Dự án GCF.

Hậu Lộc là huyện ven biển thuộc tỉnh Thanh Hóa, là một trong những huyện tham gia Dự án Tăng cường khả năng chống, chịu với những tác động của biến đổi khí hậu cho các cộng đồng dễ bị tổn thương ven biển Việt Nam (gọi tắt là dự án GCF) với 3 hợp phần: Hỗ trợ xây nhà chống chịu bão lụt, Trồng rừng ngập mặn và Thông tin và dữ liệu rủi ro thiên tai. Trong đó, hợp phần trồng rừng ngập mặn đã và đang được triển khai với các hoạt động như trồng mới, khôi phục rừng ngập mặn, chăm sóc… Các hoạt động này góp phần hoàn thành mục tiêu chung của dự án, tuy nhiên sẽ có các tác động tiêu cực tạm thời đến sinh kế của cộng đồng dân cư, đặc biệt cộng đồng có sinh kế phụ thuộc vào rừng ngập mặn do một số diện tích khai thác, đánh bắt hải sản hàng ngày của cộng đồng bị thu hẹp, công tác bảo về rừng trồng mới được tăng cường tại các khu vực trồng bổ sung, trồng đa tầng tán làm hạn chế kế sinh nhai truyền thống của cộng đồng như đánh đăng, đánh lú… để khai thác hải sản tự nhiên trong rừng ngập mặn. Trong bối cảnh đó, để đảm bảo hài hòa giữa hoạt động của dự án và quyền lợi chính đáng của cộng đồng, việc nghiên cứu, đánh giá để xác định các mô hình sinh kế thay thế cho cộng đồng bị ảnh hưởng đã được dự án GCF triển khai, mô hình “Nuôi ong lấy mật gắn với tiêu thụ sản phẩm” đã được lựa chọn tại xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc. Đây là mô hình được lựa chọn trên cơ sở nhu cầu của cộng đồng, tận dụng nguồn hoa cây rừng ngập mặn dồi dào tại xã Đa Lộc phục vụ nuôi ong lấy mật, tính phù hợp của mô hình với kinh nghiệm truyền thống nuôi ong lấy mật của cộng đồng, sự đồng thuận cũng như định hướng phát triển kinh tế của UBND xã Đa Lộc, đặc biệt việc phối hợp với Hội nuôi ong và nhóm sở thích nuôi ong xã Đa Lộc được thành lập năm 2017 là cơ sở để xây dựng mô hình hiệu quả và bền vững. Mục tiêu của mô hình là: Góp phần nâng cao thu nhập, tạo lập sinh kế bền vững cho người dân và cộng đồng bị ảnh hưởng từ hoạt động trồng, khôi phục rừng ngập mặn từ dự án GCF; Đa dạng đối tượng nuôi theo hướng hiệu quả, bền vững, tạo sản phẩm hàng hóa; Góp phần bảo vệ và phát triển rừng ngày càng hiệu quả trên đại bàn xã.

 Quy mô: 40 hộ nông dân tại xã Đa Lộc tham gia, trong đó 11 hộ có phụ nữ làm chủ hộ

Thời gian thực hiện: Từ tháng 12/2019 đến tháng 6/2020

Mục tiêu: Sau khi kết thúc, các hộ tham gia mô hình có thể:

  • Cải thiện và nâng cao kiến thức, đồng thời áp dụng và phát huy các kinh nghiệm truyền thống trong nuôi ong mật tại địa phương
  • Giảm chi phí đầu tư, tăng chất lượng và lợi nhuận cho sản phẩm mật ong làm cơ sở để nhân rộng mô hình trên quy mô lớn hơn.
  • Là các báo cáo viên giới thiệu về mô hình cho các chuyến tham quan, học tập của các hộ nông dân trong và ngoài tỉnh tại các mô hình nuôi ong của hộ tham gia..

Phân tích chi phí – lợi nhuận/hiệu quả kinh tế

Đối với mô hình nuôi ong do dự án hỗ trợ, tính toán chi phí đầu tư sẽ khác so với các loại mô hình sinh kế khác, đầu tư ban đầu của dự án gồm 84 thùng ong/40 hộ (2-3 thùng/hộ), đây là xác định là tài sản (có thể sử dụng lâu dài) của người dân, là nền tảng để nhân đàn ong ở quy mô lớn hơn, do đó không tính toán cấp ong giống ban đầu là chi phí đầu vào. Cụ thể:

Từ 84 đàn ong được cấp vào tháng 2/2020, đến tháng 6/2020, số đàn ong nhân lên từ ong dự án cấp đã đạt 200 đàn ong, tăng thêm 116 đàn (tăng 2-3 đàn/hộ). Đây là số đàn ong được nhân chưa phải cao so với bản năng nhân đàn tự nhiên của ong và chưa cao đối với những hộ nuôi ong chuyên nghiệp nhưng chấp nhận được. Bởi vì năm 2020 nắng nóng kéo dài, nguồn thức từ cây nhãn, cây vải rất ít, đồng thời phần lớn người dân vẫn còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng thực tế trong nuôi ong lấy mật. Bên cạnh đó, người nuôi ong chưa có mối liên kết, chia sẻ, hỗ trợ nhau cùng phát triển đàn ong, phần lớn tự lo cho đàn ong của gia đình. Thông qua các đợt tập huấn và hỗ trợ kỹ thuật nâng cao của dự án, nuôi ong ở Đa Lộc nay phần lớn người nuôi đã hạn chế hiện tượng tự bay (mất đàn), đàn ong khỏe, người nuôi tự nhân đàn.

 

Trước khi dự án hỗ trợ, phần lớn hộ trung bình thu 3kg mật/đàn/4 tháng. Giá bán 200,000đ/kg x 3kg/đàn = 600,000đ. Lợi nhuận khoảng 400,000đ/đàn/4 tháng.

Sản lượng mật thu được tăng so với trước khi dự án tác động. Cụ thể, thu trung bình đạt 7kg mật/đ

àn/4tháng. Giá bán 200,000đ/kg x 7kg mật/đàn = 1,400,000đ.  Nhân đàn: Từ 01 đàn đã nhân thêm 03 đàn, doanh thu đạt 3đàn x 1,000,000đ/đàn = 3,000,000đ.

Tổng doanh thu đạt 4,400,000đ/đàn, lợi nhuận đạt 2,759,000đ/đàn (trong đó lợi nhuận từ mật ong ước đạt khoảng 1,300,000đ/đàn).

 

 Bảng 1: Tính toán chi phí, lợi nhuận

TT Nội dung ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền Ghi chú
I Chi phí đầu tư 01 đàn ong (tính cho 6 tháng) 1,640,500  
1 Đường kg 2,5 15,000 37,500  
2 Phấn hoa bổ sung kg 0,3  60,000 20,000  
3 Thuốc phòng bệnh các loại       10,000  
4 Tổ ong có 3 cầu đạt chất lượng tổ 01 1,550,000 1,550,000  
3 Cầu, chân tầng bộ 01   12,000  
 4 Khấu hao thùng ong cái 01   11,000 Khấu hao 10 năm
5 Công lao động         Lấy công làm lãi
II Doanh thu từ 1 đàn 4,400,000  
1 Mật ong kg 7 200,000 1,400,000  
2 Đàn ong (nhân đàn) đàn 3 1,000,000 3,000,000  
III Lợi nhuận từ 1 đàn (II-I) 2,759,500  
  Lợi nhuận từ 84 đàn: 84 * 2,759,500 vnd 231,756,000  

Hiệu quả về xã hội và môi trường:

Từ hiệu quả bước đầu, mô hình đã tạo sự lan tỏa đáng kể trong cộng đồng dân cư xã Đa Lộc, người dân đã thấy nhìn nhận khác về nuôi ong lấy mật, hay vì tư tưởng“Thả ong” họ đã hiểu kỹ thuật “Nuôi ong” – chăm sóc và lấy mật theo hướng dẫn, tận dụng tối đa nguồn hoa tự nhiên từ rừng ngập mặn, tính cộng đồng được phát huy thông qua các buổi chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nhau kỹ thuật nuôi ong. Đây là mô hình nuôi ong hướng tới phát triển phát triển bền vững theo định hướng của chính quyền địa phương, bước đầu đã mang lại kết quả tích cực, 100% hộ tham gia hài lòng với quy trình thực hiện và hiệu quả của mô hình, chính quyền địa phương cũng đã có nhận định về tính khả thi trong việc nhân rộng mô hình nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu xây dựng nuôi ong là một nghề của người dân tại xã Đa Lộc, góp phần vào cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.

Rừng ngập mặn luôn gắn chặt với nuôi ong lấy mật, do đó, xây dựng thành công mô hình sẽ góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của các thành viên nhóm nuôi ong nói riêng và cộng đồng xã Đa Lộc nói chung trong công tác quản lý bền vững rừng ngập mặn. Bên cạnh đó, người nuôi cũng đã xác định phải tạo ra những sản phẩm mật sạch, không dư lượng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật thì sản phẩm của họ với tiếp cận được các thị trường lớn hơn hiện tại sẽ góp phần nâng cao ý thức sử dụng các loại hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật trong nuôi ong nói riêng và các loại cây trồng khác nói chung.

Ngoài ra, ong có vai trò thụ phấn cho cây trồng, góp phần mang lại hiệu quả sản xuất nông nghiệp cho người dân.

TÍNH BỀN VỮNG VÀ KHẢ NĂNG NHÂN RỘNG

Qua đánh giá ở trên cho thấy mức độ tăng đàn và sản lượng mật tuy chưa cao nhưng phù hợp trong bối cảnh các điều kiện khách quan không thuận lợi cho nuôi ong năm 2020 (thời tiết nắng nóng, một số loài cây chủ lực như vải, nhãn không có nhiều mật), đồng thời khi được tập huấn kỹ thuật tốt thì người dân sẽ hoàn toàn chủ động trong kiểm soát kỹ thuật nuôi, qua đó thể hiện có sự tác động của dự án, hiệu quả nuôi ong của người dân được cải thiện rõ rệt, đã có tính tự chủ về kỹ thuật và định hướng phát triển đàn trong quy mô hộ gia đình. Bên cạnh đó, UBND xã Đa Lộc đã đưa vào Nghị quyết của Đảng bộ quyết tâm xây dựng thương hiệu mật ong rừng ngập mặn xã Đa Lộc vào chương trình Một xã một sản phẩm (OCOP), do đó việc nhân rộng quy mô nuôi ong trên địa bàn xã để tạo ra sản phẩm hàng hóa là hoàn toàn khả thi.

Đối với việc nhân rộng trong quy mô lớn hơn trong xã Đa Lộc có thể tiềm ẩn những bất lợi về môi trường sinh thái, cũng như sẽ tạo ra những khó khăn trong vấn đề tổ chức sản xuất tổ nhóm và tiêu thụ sản phẩm do sự gia tăng nhanh số lượng đàn ong trong một khu vực nhỏ. Vì vậy, để tiếp tục duy trì và phát triển mô hình này Hội nuôi ong Đa Lộc có tính toán về lượng đàn ong tối đa có thể nuôi được ở khu vực, nâng cao năng lực quản lý của Hội và xây dựng thương hiệu mật ong tiếp cận thị trường một cách chắc chắn và lâu dài.

 

Hoàng  Văn Tuấn-  Chuyên gia sinh kế – CORENACCA

Bài viết liên quan

Diễn đàn khoa học vè kinh tế tuần hoàn và tín chỉ các bon- phương pháp xây dựng mô hình sản xuât giảm phát thải

Ngày 30 tháng 9 năm 2026 Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp...

Khôi phục rừng cây bản địa thay thế cây keo bằng cây dổi và cây quế ngọc Thường Xuân

Trong khoảng 20 năm trở lại đây không chỉ  ở Thanh Hóa mà hầu hết các tỉnh có rừng của cả...