Quản lý rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng để tăng cường khả năng chống chịu với rủi ro biến đổi khí hậu 27/07/2023 Nghi Nguyen Trung tâm nghiên cứu, tư vấn tài nguyên và biến đổi khí hậu (CORENACCA) triển khai thực hiện Dự án của Tổ chức Bánh mì cho Thế giới – BftW, dưới sự chỉ đạo và giám sát trực tiếp của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật trong hai năm qua đã đạt được một số kết quả ban đầu như mục tiêu kế hoạch đã đề ra. Nhằm nâng cao khả năng chống chịu của các cộng đồng dễ bị tổn thương ven biển tại các xã Đa Lộc (huyện Hậu Lộc), Nga Thủy và Nga Tân (huyện Nga Sơn) của tỉnh Thanh Hóa thông qua các hoạt động quản lý rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng. 1. Hoạt động nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ rừng cho cộng đồng: Để đánh giá năng lực cộng đồng cũng như cán bộ về quản lú bảo vệ rừng Dự án đã tổ chức khảo sát đánh giá năng lực của cộng đồng và cán bộ chính quyền địa phương trong quản lý rừng ngập mặn tại 3 xã dự án. Hai nhóm vấn đề khảo sát gồm: 1) Vai trò, trách nhiệm của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn; 2) Nhận thức, hiểu biết về pháp luật lâm nghiệp liên quan tới quản lý bảo vệ rừng ngập mặn. Mục đích nhằm thu thập chính xác thông tin về vai trò, trách nhiệm và đánh giá nhận thức, năng lực của cộng đồng trong công tác quả lý rừng ngập mặn của cộng đồng địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn, qua đó làm cơ sở tổ chức các hoạt động tập huấn, truyền thông nâng cao năng lực cho cộng đồng và các nhóm dự án. Thông qua các hoạt động tập huấn, truyền thông đã giúp cho người dân, cán bộ chính quyền địa phương nắm bắt được các thông tin cập nhật nhất về pháp luật lâm nghiệp, những quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm khi sử dụng, khai thác động, thực vật bất hợp pháp, các phương thức quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn có sự tham gia của cộng đồng, các vấn đề về giới, biến đổi khí hậu. Dự án đã hỗ trợ xây dựng 01 vườn ươm cây cây giống rừng ngập mặn: Từ thực tế trên địa bàn hai huyện Hậu Lộc và Nga Sơn chưa có vườn ươm cây giống rừng ngập mặn, dự án đã xây dựng vườm ươm sản xuất cây giống tại chỗ tại xã Nga Thuỷ để chủ động cung cấp nguồn giống phục vụ trồng rừng của dự án, đồng thời giảm chi phí mua cây giống tại các địa phương khác. Nhóm vườn ươm 20 thành viên đã sản xuất được 26.000 cây trang giống phục vụ trồng rừng, tỉ lệ sống đạt trên 95%. Nhóm vườn ươm đang chăm sóc cây giống Đã trồng xen đa tầng tán 30 ha rừng ngập mặn tỉ lệ sống đạt từ 70% trở lên. Trong những năm qua, rừng ngập mặn tại xã Đa Lộc (Hậu Lộc) và hai xã Nga Tân, Nga Thuỷ (Nga Sơn) chủ yếu là trồng thuần loài, tạo ra các cấu trúc rừng đơn tầng nên khả năng phòng hộ chắn sóng, chắn gió còn hạn chế. Dự án đã lựa chọn các diện tích rừng thuần loài, có mật độ chưa đạt yêu cầu để trồng xen cây Trang và cây Bần chua nhằm tăng diện tích rừng đa tầng tán, tăng đa dạng sinh học, góp phần tăng khả năng phòng hộ của rừng ngập mặn, tăng hấp thụ và lưu trữ các bon. Năm 2022, đã trồng xen đa tầng tán 2 loài cây Trang và Bần chua và chăm sóc 30 ha/80 kế hoạch 3 năm ở xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc (29.5ha) và Nga Thủy, huyện Nga Sơn (0.5ha), tỉ lệ sống đạt trên 60% đối với trồng xen cây Trang, tỉ lệ sống đạt 90% đối với cây Bần chua. Nhóm trồng rừng xã Đa Lộc Ngoài ra, rừng ngập mặn được xác định là là một trong những kiểu rừng có trữ lượng các-bon cao nhất tại vùng nhiệt đới, rừng ngập mặn được bảo tồn và phát triển tốt sẽ gia tăng hấp thụ các bon, trong bối cảnh có nhiều chương trình, dự án trong và ngoài nước đang quan tâm tới thị trường các bon rừng ngập mặn tại tỉnh Thanh Hoá, do đó dự án đã thực hiện thí điểm đo lường hấp thụ các bon của 575ha rừng ngập mặn tại 3 xã Nga Tân, Nga Thủy và Đa Lộc nhằm có đánh giá trữ lượng các bon hấp thụ của các trạng thái rừng, dự án mong muốn kết quả đo đếm sẽ là một kênh thông tin bổ ích cho chính quyền địa phương và ngành lâm nghiệp Thanh Hoá tham khảo, đồng thời kết quả đo đếm cũng được chia sẻ tới cộng đồng 3 xã dự án như một hình thức truyền thông về vai trò của rừng ngập mặn. Đã tổ chức đo đếm các bon với 24 người dân tham gia; Tổ chức 09 hội nghị thông tin về quy trình và kết quả đo đếm, hấp thụ các bon từ rừng ngập mặn (900 lượt người). Kết quả đo đếm: Tổng trữ lượng các bon xác định tại thời điểm tháng 6/2022 (các bon cơ sở) 101.220,66 tấn, bình quân trên ha: 176,04 tấn/ha. Eva Giám đốc và Ms Lan Phó giám đốc – BftW thảo luận với nhóm đo đếm các bon tại hiện trường Bên cạnh hoạt động trồng và quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn, Dự án đã hỗ trợ các mô hinh sinh kế nâng cao thu nhập cho các hộ đặc biệt là hộ nghèo và cận nghèo ven biển tại 3 xã Đa Lộc (Hậu Lộc), Nga Tân và Nga Thuỷ (Nga Sơn). Trước khi triển khai mô hình, Dự án đã tổ chức khảo sát đánh giá thực trạng và lấy ý kiến của người dân và chính quyền địa phương để lựa chọn mô hình phù hợp. Mô hình nuôi ong lấy mật: Dự án đã cung cấp 2 đàn ong/hộ, tổng cấp 400 đàn ong giống cho 200 hộ tại 3 xã dự án (2022 cấp 200 đàn cho 100 hộ, 2023 cấp 200 đàn cho 100 hộ). Tổ chức 09 khoá tập huấn kỹ thuật nuôi ong lấy mật cho 200 hộ tham gia mô hình. Kết quả nhân đàn ong: ‘ Tổng đàn ong của 200 hộ đến tháng 5/2023 đã nhân lên là 496 đàn. Tổng sản lượng mật thu hoạch đạt 4,955 kg, doanh thu đạt 1.138.600.000 đồng Trong nhóm sinh kế nuôi ong có hộ cá biệt nhân đàn ong rất tốt, như chị Nguyễn Thị Hải, thôn Đô Lương, xã Nga Thuỷ được dự án cấp 02 thùng năm 2022 nhân được thêm 5 đàn trong năm 2022 và năm 2023 nhân tiếp thêm được 15 đàn, tổng 20 đàn, lợi nhuận thu được từ mật ong năm 2022 và 2023 là hơn 35 triệu đồng Bà Nguyễn Thị Hải Thôn Đô Lương, Nga Thủy, Nga Sơn đang kiểm tra đàn ong Mô hình trồng cói và rau không sử dụng phân hóa học Dự án đã cung cấp 7 tấn phân hữu cơ Sông Gianh cấp cho 140 hộ (50kg/hộ) để canh tác cây cói. Cung cấp 376 kg chế phẩm vi sinh xử lý chất thải hữu cơ cho 200 người để ủ phân hữu cơ vi sinh. Tổ chức 07 khoá tập huấn kỹ thuật ủ phân hữu cơ vi sinh cho 200 người. Mô hình sử dụng men vi sinh để làm phân hữu cơ đã tận dụng được rác thải hữu cơ để sản xuất phân góp phần bảo vệ môi trường và giảm thiểu biến đổi khí hậu. Mô hình đã thay đổi tập quản canh tác của người dân địa phương sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu làm đất bạc màu và năng suất cây trồng giảm sản lượng. Dự án đã xây dựng mô hình đối chứng để người dân chia sẻ kết quả thực tế từ mô hình để nhân diện rộng. Sử dụng phân hữu cơ vi sinh cho canh tác cói đã đem lại nhiều lợi ích như cung cấp đầy đủ dưỡng chất cần thiết cho cây trồng, bộ rễ phát triển tốt, bền lâu và giúp cho đất xốp, đẩy lùi được dịch bệnh. Qua thử nghiệm đối chứng và kết quả của các hộ sử dụng phân hữu cơ vi sinh tự ủ bón cho cây cói cho thấy năng suất cây cói tăng rõ rệt, cây cói phát triển đều, xanh lâu, thân cây cứng cáp, ít đẻ cây con và ít sâu bệnh hại hơn canh tác sử dụng phân hoá học, giảm sử dụng phân hoá học và thuốc bảo vệ thực vật Bài học kinh nghiệm Lập kế hoạch hoạt động dự án cần có sự tham gia của cộng đồng và chính quyền địa phương nhằm huy động tối đa các nguồn lực của địa phương và cộng đồng. Trong quá trình triển khai các hoạt động của dự án chú trọng xây dựng nhóm nòng cốt là những người có nhiều kinh nghiệm và kỹ năng làm việc với cộng đồng nhằm tạo ra lực lượng tại chỗ hỗ trợ hộ gia đình và dự án hiệu quả trong suốt chu trình của dự án. Xây dựng các mô hình sinh kế theo phương pháp cầm tay chỉ việc, kết hợp lý thuyết với thực hành tại chỗ theo từng giai đoạn phát triển của cây trồng, vật nuôi sẽ tăng khả năng tiếp thu của học viên và tăng hiệu quả của mô hình. Xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá có sự tham gia của các nhóm nông dân và chính quyền địa phương tham gia dự án giúp các bên tham gia hiểu rõ và tổ chức thực hiện quản lý các hoạt động dự án một cách hiệu quả hơn, đồng thời cung cấp kịp thời các thông tin về tiến độ dự án, các vấn đề gặp phải trong quá trình thực hiện, giúp các bên tham gia dự án ra các quyết định và có các điều chỉnh kịp thời nhằm đảm bảo chất lượng dự án. Sự giám sát và quan tâm chỉ đạo kịp thời của Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa để giải quyết các vướng mắc khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện Dự án. Nguyễn Viết Nghị