Home    Bảo vệ rừng, BftW, Biến đổi khí hậu và REDD+, Giao đất lâm nghiệp gắn giao rừng, INKOTA, Môi trường, Rừng phòng hộ, Sinh kế, Thiên nhiên, Trồng rừng  Trồng và quản lý rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng để tăng cường khả năng chống chịu với rủi ro biến đổi khí hậu tại tỉnh Thanh Hóa

Trồng và quản lý rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng để tăng cường khả năng chống chịu với rủi ro biến đổi khí hậu tại tỉnh Thanh Hóa

Từ tháng 10 năm 2021 đến tháng 10 năm 2024 Trung tâm nghiên cứu, tư vấn tài nguyên và biến đổi khí hậu (CORENACCA) là Tổ chức khoa học công nghệ trực thuộc Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (TUSTA) đã triển khai thực hiện Dự án tài trợ bởi Tổ chức Bánh mì cho Thế giới – BftW, dưới sự chỉ đạo và giám sát trực tiếp của TUSTA trong 3 năm qua đã đạt được một số kết  quả như mục tiêu kế hoạch đã đề ra. Nhằm nâng cao khả năng chống chịu của các cộng đồng dễ bị tổn thương ven biển tại các xã Đa Lộc (huyện Hậu Lộc), Nga Thủy và Nga Tân (huyện Nga Sơn) của tỉnh Thanh Hóa thông qua các hoạt động quản lý rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng dân cư ven biển.

Trong 3 năm qua, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là ảnh hưởng của đại dịch Covid–19 nhưng Dự án đã phát huy những thuận lợi căn bản để triển khai các hoạt động, luôn bám sát vào chủ trương của Nhà nước, của tỉnh và những chính sách, hướng dẫn cụ thể của 02 huyện Nga Sơn và Hậu Lộc để xây dựng được chu trình thực hiện Dự án một cách khoa học và hiệu quả. Tổ chức thực hiện nhiều hoạt động tại 03 xã vùng Dự án đạt được những kết quả đáng ghi nhận, tạo lòng tin và sự tham gia tích cực của người dân địa phương đối với việc quản lý và phát triển rừng ngập mặn và sinh kế cho cộng đồng dân cư ven biển.

Kết quả các hoạt động và những bài học kinh nghiệm từ một số mô hình được trình bày trong bài viết này như sau


  Hoạt động nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ rừng cho cộng đồng:

Để đánh giá năng lực cộng đồng cũng như cán bộ  về quản lý bảo vệ rừng Dự án đã tổ chức khảo sát đánh giá năng lực của cộng đồng và cán bộ chính quyền địa phương trong quản lý rừng ngập mặn tại 3 xã dự án. Hai nhóm vấn đề khảo sát gồm: 1) Vai trò, trách nhiệm của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn; 2) Nhận thức, hiểu biết về pháp luật lâm nghiệp liên quan tới quản lý bảo vệ rừng ngập mặn. Mục đích nhằm thu thập chính xác thông tin về vai trò, trách nhiệm và đánh giá nhận thức, năng lực của cộng đồng trong công tác quả lý rừng ngập mặn của cộng đồng địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn, qua đó làm cơ sở tổ chức các hoạt động tập huấn, truyền thông nâng cao năng lực cho cộng  đồng và các nhóm dự án đạt hiệu của và sát với thực tế của địa phương.

Thông qua các hoạt động tập huấn, truyền thông đã giúp cho người dân, cán bộ chính quyền địa phương nắm bắt được các thông tin cập nhật nhất về pháp luật lâm nghiệp, những quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm khi sử dụng, khai thác bất hợp pháp các loài ở rừng ngập mặn, các phương thức quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn có sự tham gia của cộng đồng, các vấn đề về giới, rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu.

Dự án đã hỗ trợ xây dựng 01 vườn ươm cây cây giống rừng ngập mặn:

Từ thực tế trên địa bàn hai huyện Hậu Lộc và Nga Sơn chưa có vườn ươm cây giống rừng ngập mặn, dự án đã xây dựng vườm ươm sản xuất cây giống tại chỗ tại xã Nga Thuỷ để chủ động cung cấp nguồn giống phục vụ trồng rừng của dự án, đồng thời giảm chi phí mua cây giống tại các địa phương khác. Nhóm vườn ươm 20 thành viên đã sản xuất được 33.000 cây Trang giống, trong đó có 26.000 cây giống đủ tiêu chuẩn xuất vườn phục vụ trồng rừng ngập mặn trong vùng dự án. Hiện tại còn khoảng 7.000 cây giống trong được Dự án bàn giao cho nhóm vườn ươm cộng đồng quản lý để tiếp tục cung cấp cho người dân và các đơn vị có nhu cầu.

        Đã trồng xen đa tầng tán 80 ha rừng ngập mặn

Trong những năm qua, rừng ngập mặn tại xã Đa Lộc (Hậu Lộc) và hai xã Nga Tân, Nga Thuỷ (Nga Sơn) chủ yếu là trồng thuần loài, tạo ra các cấu trúc rừng đơn tầng nên khả năng phòng hộ chắn sóng, chắn gió còn hạn chế. Dự án đã lựa chọn các diện tích rừng thuần loài, có mật độ chưa đạt yêu cầu để trồng xen cây Trang và cây Bần chua nhằm tăng diện tích rừng đa tầng tán, tăng đa dạng sinh học, góp phần tăng khả năng phòng hộ của rừng ngập mặn, tăng hấp thụ và lưu trữ các bon. Từ năm 2022 đến năm 2024 đã trồng xen đa tầng tán 2 loài cây Trang và Bần chua ở 3 xã Nga Thủy và  Nga Tân huyện Nga Sơn, Đa Lộc huyện Hậu Lộc. Đối với loài cây bần chua tỷ lệ sộng cao trên 90%, cây trang tỷ lệ sống thấp chỉ đạt khoảng 50%. Địa phương, các ngành liên quan nên có nghiên cứu lý do cây trang tỷ lệ sống thấp để có các giải pháp phù hợp cho vấn đề này.

Ngoài ra, rừng ngập mặn được xác định là là một trong những kiểu rừng có trữ lượng các-bon cao nhất tại vùng nhiệt đới, rừng ngập mặn được bảo tồn và phát triển tốt sẽ gia tăng hấp thụ các bon, trong bối cảnh có nhiều chương trình, dự án trong và ngoài nước đang quan tâm tới thị trường các bon rừng ngập mặn tại tỉnh Thanh Hoá, do đó dự án đã thực hiện thí điểm đo lường hấp thụ các bon của 575ha rừng ngập mặn tại 3 xã Nga Tân, Nga Thủy và Đa Lộc nhằm có đánh giá trữ lượng các bon hấp thụ của các trạng thái rừng, dự án mong muốn kết quả đo đếm sẽ là một kênh thông tin bổ ích cho chính quyền địa phương và ngành lâm nghiệp Thanh Hoá tham khảo, đồng thời kết quả đo đếm cũng được chia sẻ tới cộng đồng 3 xã dự án như một hình thức truyền thông về vai trò của rừng ngập mặn. Kết quả đo đếm hấp thụ Các bon từ rừng ngập mặn của 3 xã dự án, trữ lượng Cacbon cơ sở đo đếm tháng 6/2022 đạt 147.119,19 tấn; lượng Cacbon hấp thụ tháng 6/2023 đạt 165.391,40 tấn; lượng Cacbon hấp thụ tháng 6/2024 đạt 215.555,97 tấn. Từ kết quả đo đếm, dự án đã tổ chức 10 hội nghị thông tin về quy trình và kết quả đo đếm, hấp thụ các bon từ rừng ngập mặn với hơn 1.000 lượt người tham gia Đặc biệt kết quả đo đếm các bon được chia sẻ cho các Tổ chức quốc tế và trong nước tại Hội thảo đo đếm các bon ở tỉnh Thanh Hóa vào đầu tháng 9 năm 2024 đã được các đại biểu là chuyên gia trong nước và Quốc tế đánh giá cao,

      Mô hình nuôi ong lấy mật:

Dự án đã cung cấp 2 đàn ong/hộ, tổng cấp 450 đàn ong giống cho 200 hộ tại 3 xã dự án (2022 cấp 200 đàn cho 100 hộ, 2023 cấp 200 đàn cho 100 hộ, năm 2024 cấp 50 đàn bổ sung cho các hộ bị ong bốc bay).  Đến tháng 7/2024, tổng đàn ong của 200 hộ là 640 đàn (tăng 190 đàn so với tổng đàn ong giống được cấp).

Đến tháng 7/2024, tổng đàn ong là 640 đàn, sản lượng mật thu hoạch đạt 3.200kg, doanh thu đạt 640.000.000 đồng, lợi nhuận đạt 519.888.000 đồng, lợi nhuận trung bình/hộ là 2.599.400 đồng.

Trong nhóm sinh kế nuôi ong có hộ cá biệt nhân đàn ong rất tốt, như chị Nguyễn Thị Hải, thôn Đô Lương, xã Nga Thuỷ được dự án cấp 02 thùng năm 2022 nhân được thêm 5 đàn trong năm 2022 và năm 2024 nhân tiếp thêm được 20 đàn, tổng 25 đàn, lợi nhuận thu được từ mật ong năm 2023 và 2024 là hơn 35 triệu đồng

  

Mô hình đã tạo sự lan tỏa đáng kể trong cộng đồng 3 xã dự án, người dân đã nhìn nhận khác về nuôi ong lấy mật, thay vì tư tưởng“Thả ong” người dân đã “Nuôi ong” nhằm tận dụng tối đa nguồn hoa tự nhiên từ rừng ngập mặn và các loài cây khác tại địa phương, tính cộng đồng được phát huy thông qua các buổi chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nhau kỹ thuật nuôi ong.

 Mô hình trồng cói và rau không sử dụng phân hóa học

         Từ kết quả khảo sát sinh kế, trong giai đoạn đầu, Dự án đã tổ chức 07 khóa tập huấn kỹ thuật ủ phân vi sinh; cung cấp 7 tấn phân hữu cơ Sông Gianh cấp cho 140 hộ (50kg/hộ) để canh tác cây cói; 426 kg chế phẩm vi sinh xử lý chất thải hữu cơ cho 246 hộ để ủ phân hữu cơ vi sinh sử dụng cho canh tác cói và rau màu để giảm bớt sử dụng lượng phân bón hóa học cho các mô hình trồng trọt, nhiều hộ gia đình tại 03 xã dự án đã tận dụng nguồn nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương (phụ phẩm từ cây cói, rơm rạ, rác thải và phân chuồng) để sản xuất hàng trăm tấn phân hữu cơ vi sinh sử dụng cho sản xuất nông nghiệp nhằm bổ sung thêm chất hữu cơ, mùn và các yếu tố vi lượng cho cây trồng. Việc sử dụng phụ phế phẩm nông nghiệp sản xuất phân hữu cơ vi sinh đã giảm ô nhiễm môi trường nhờ hạn chế đốt rác, giảm lượng rác thải nông nghiệp không sử dụng trong điều kiện giá phân bón hóa học tăng cao (gấp hơn 02 lần những năm trước). Sử dụng phân hữu cơ vi sinh còn giúp cải tạo đất, chống thoái hoá đất, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường đất, môi trường nước. Phân hữu cơ vi sinh làm thay đổi tích cực chuyển hoá các thành phần hữu cơ, vi sinh vật trong đất giúp tái cấu trúc hệ sinh thái tự nhiên trong đất, làm tăng sự đa dạng sinh học và sự bền vững của hệ sinh thái đất, giảm nguy cơ người dân tiếp xúc trực tiếp với các loại hoá chất độc hại.

Với mô hình cói và trồng rau sử dụng phân hữu cơ vi sinh bài học rút ra là từ mô hình đối chứng tại cánh đồng có điều kiện đất đai tự nhiên như nhau, nhưng cách canh tác truyền thống sử dụng phân vô cơ thuốc trừ sâu ô nhiễm môi trường  năng suất thấp so với cách canh tác mới của Dự án. Tuy nhiên để thay đổi thói quen canh tác cần có  thời gian dài nên cần hỗ trợ của chính quyền địa phương và các ngành nông nghiệp để duy trì và nhân diện rộng mô hình này.

Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Trong quá trình triển khai các hoạt động của dự án chú trọng xây dựng nhóm nòng cốt là những người có nhiều kinh nghiệm và kỹ năng làm việc với cộng đồng nhằm tạo ra lực lượng tại chỗ hỗ trợ hộ gia đình và dự án hiệu quả trong suốt chu trình của dự án.

Để xây dựng thành công các mô hình sinh kế cần tổ chức lớp học hiện trường, mô hình cụ thể, “cầm tay chỉ việc” nhất là mô hình ong và làm phân vi sinh, nông dân chia sẻ kinh nghiệm thực tế những khó khăn và kết quả của mô hình;

Xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá có sự tham gia của các nhóm nông dân và chính quyền địa phương tham gia dự án giúp các bên tham gia hiểu rõ và tổ chức thực hiện quản lý các hoạt động dự án một cách hiệu quả hơn;

Sự giám sát và quan tâm chỉ đạo kịp thời của Liên hiệp các Hội Khoa học và  kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa để giải quyết các vấn đề ngân sách đối ứng cho dự án cũng như  các vướng mắc khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện Dự án.

Được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo chính quyền địa phương 2 huyện Nga Sơn và Hậu Lộc, Phòng nông nghiệp huyện và Ban chỉ đạo các xã Dự án Nga Thủy, Nga Tân và Đa Lộc cùng đồng hành với các hoạt động của Dự án.

 

 

Thạc Sỹ: Nguyễn Viết Nghị

 

Bài viết liên quan

Diễn đàn khoa học vè kinh tế tuần hoàn và tín chỉ các bon- phương pháp xây dựng mô hình sản xuât giảm phát thải

Ngày 30 tháng 9 năm 2026 Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp...

Khôi phục rừng cây bản địa thay thế cây keo bằng cây dổi và cây quế ngọc Thường Xuân

Trong khoảng 20 năm trở lại đây không chỉ  ở Thanh Hóa mà hầu hết các tỉnh có rừng của cả...